vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thuý A và anh Trần Văn Đ.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 16/9/2015 cho anh Đ và giao cháu Trần Gia K, sinh ngày 25/3/2021 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thuý An khởi kiện ông Trần văn Được về việc xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thuý A và anh Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2025
V/v Ly hôn giữa chị A và anh Đ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Phụng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Thừa

2. Ông Cao Thanh Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 496/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuý A, sinh năm 1999; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1992; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014, do mai mối, tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Thuý A và anh Trần Văn Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp và anh Đ không quan tâm gì đến vợ, con. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên đã sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay. Nay chị A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Có 02 con chung: Cháu Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 16/9/2015 và cháu Trần Gia K, sinh ngày 25/3/2021. Chị A yêu cầu được giành quyền nuôi 02 (hai) cháu cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên toà, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu K, giao cháu M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu các bên cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm bị đơn anh TrầnVăn Được vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thuý A và anh Trần Văn Đ.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 16/9/2015 cho anh Đ và giao cháu Trần Gia K, sinh ngày 25/3/2021 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Đối với cháu K: Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Đối với cháu M: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Ngoài ra, chị Nguyễn Thị Thuý A, sinh ngày 24/12/199 tính đến thời điểm sinh cháu Trần Thị Tuyết M (đăng ký khai sinh ngày 16/9/2015) chị A chưa đủ 16 tuổi. Do đó, vụ việc có dấu hiệu về tội giao cấu người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xác minh làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu của các đương sự thì tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị A và anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, có cơ sở xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị A thừa nhận thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng rất hạnh phúc nhưng thời gian gần đây phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, anh Đ không quan tâm gì đến vợ, con. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên đã sống ly thân. Thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị A đã nộp đơn khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết cũng tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ đều vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị A cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh Đ. Anh Đ tiếp tục vắng mặt không rõ lý do. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị A và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị A xin ly hôn với anh Đ là có cơ sở chấp nhận.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung: cháu Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 16/9/2015 và cháu Trần Gia K, sinh ngày 25/3/2021. Chị A yêu cầu được giành quyền nuôi cháu K, giao cháu M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu các bên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Từ lúc vợ chồng sống ly thân, chị A là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và anh Đ nuôi cháu M. Hiện cháu K còn rất nhỏ và cháu M đang đi học tại địa phương nơi sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, cháu M có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với anh Đ. Chính vì vậy, để ổn định sự phát triển bình thường về mặt tâm lý cũng như thuận tiện trong việc chăm sóc nên cần thiết tiếp tục giao cháu K cho chị A và giao cháu M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Đối với cháu K: Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Đối với cháu M: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, anh Đ đều vắng mặt và không có yêu cầu đối với chị A về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, cần tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị A xác định không có và không yêu cầu giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, anh Đ đều vắng mặt không rõ lý do và không cung cấp ý kiến trình bày và yêu cầu về tài sản chung và nghĩa vụ chung. Do đó, cần tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi phát sinh tranh chấp.

Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị A phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xác minh làm rõ hành vi giao cấu người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi của anh Trần Văn Đ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thuý A và anh Trần Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Tuyết M, sinh ngày 16/9/2015 cho anh Đ và giao cháu Trần Gia K, sinh ngày 25/3/2021 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Đối với cháu K: Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Đối với cháu M: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Dành quyền thăm nom con chung cho anh Đ và chị A, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh Đ và chị Mai không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì anh Đ và chị A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của nhau.

Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các bên có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị A phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008266 ngày 11/10/2024. Công nhận chị A đã nộp xong.

5. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn và vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ