vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 88, Điều 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus và kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị H Hoi B, bị đơn anh Y Thương N"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 13/2025/HNGĐ - ST.
Ngày: 09/4/2025.
“V/v: Tranh chấp về xác định con cho cha, mẹ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trường.

- Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Phạm Xuân Vinh.

Chức vụ: Giáo viên hưu trí. Nguyên trưởng phòng giáo dục huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

2/. Ông Nguyễn Văn Hải.

Chức vụ: Chủ doanh nghiệp Kiều Mai, tổ dân phố 7, thị trấn Phước An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hòa Bình.

Là: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa. Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 09/4/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 393/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2024. Về việc: “Tranh chấp về xác định con cho cha, mẹ”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2025 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 3 năm 2025. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H Hoi B. Sinh năm: 1997. Địa chỉ: Buôn K, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

(Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Y Thương N. Sinh năm: 1995. Địa chỉ: Buôn K, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Vương T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

(Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2024, biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H Hoi B trình bày:

Tôi với anh Y Thương N quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 14/11/2017. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Đến năm 2020 tôi đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương và đã phát sinh tình cảm, sống với nhau như vợ chồng với anh Phan Vương T. Tôi và anh T sinh được 1 con chung tên là H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020. Tại thời điểm tôi làm giấy khai sinh cho cháu H’ Ngọc Lan B thì tôi chưa ly hôn với anh Y Thương N nên giấy khai sinh của cháu H’ Ngọc Lan B đã ghi tên cha là anh Y Thương N.

Ngày 04/10/2022 tôi làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Y Thương N. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa tôi với anh Y Thương N.

- Về con chung: Giao cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020 cho chị H Hoi B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Anh Y Thương N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Y Thương N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Hoi B và anh Y Thương N tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Chị H Hoi B, anh Y Thương N là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm.

Ngày 07/8/2023 tôi đăng ký kết hôn với anh Phan Vương T tại UBND xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, đến ngày 08/8/2023 anh Phan Vương T làm đơn yêu cầu công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus tại thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm ADN cho anh Phan Vương T và cháu H’ Ngọc Lan B.

Tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus xác định: Anh Phan Vương T có quan hệ huyết T bố con với H’ Ngọc Lan B, độ tin cậy đến 99,9999%.

Anh Phan Vương T còn làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Krông Pắc ra quyết định trưng cầu giám định ADN giữa anh Phan Vương T và cháu H’ Ngọc Lan B.

Tại kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phan Vương T là người cha sinh học của H’ Ngọc Lan B.

Ngày 25/3/2024 tôi làm đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk gửi đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc về phần con chung, lý do: Cháu H’ Ngọc Lan B không phải là con chung giữa tôi với anh Y Thương N.

Tại quyết định tái thẩm số 05/2024/HNGĐ-TT, ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã Hủy Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc về phần con chung và cấp dưỡng nuôi con chung liên quan đến cháu H’ Ngọc Lan B. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Vì các lý do nêu trên nay tôi yêu cầu Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để xác định con cho cha mẹ đối với cháu H’ Ngọc Lan B là con giữa tôi với anh Phan Vương T. Ngoài ra tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Vương T trình bày:

Vào năm 2017 tôi đi làm công nhân tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đến năm 2020 tôi quen biết và có quan hệ tình cảm với chị H Hoi B, sau đó chúng tôi sống với nhau như vợ chồng tại tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống tôi không biết chị H Hoi B đã có chồng, đến khi chị H Hoi B về nhà để sinh cháu H’ Ngọc Lan B thì tôi mới biết chị H Hoi B đã có chồng. Do vợ tôi chị H Hoi B chưa đền cho anh Y Thương N số tiền 30.000.000 đồng theo phong tục tập quán nên chưa thể ly hôn theo quy định của pháp luật được.

Khi chị H Hoi B đi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu H’ Ngọc Lan B thì tôi nghĩ rằng chị H Hoi B sẽ để trống tên cha trong giấy khai sinh, khi nào chị H Hoi B làm thủ tục ly hôn với anh Y Thương N và đăng ký kết hôn với tôi xong thì sẽ bổ sung tên cha là tôi vào giấy khai sinh nhưng UBND xã không đồng ý mà phải ghi tên cha là người chồng trong giấy đăng ký kết hôn.

Nay chị H Hoi B làm đơn yêu cầu Tòa án xác định cháu H’ Ngọc Lan B là con của tôi với chị H Hoi B thì tôi đồng ý.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Y Thương N đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt tại các buổi làm việc nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Y Thương N.

Ngày 22/8/2024 Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc mở phiên tòa xét xử vụ án. Nguyên đơn chị H Hoi B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Vương T đều vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt; Bị đơn anh Y Thương N vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Y Thương N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 71 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 88, Điều 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus và kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh để chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Hoi B. Công nhận cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020 là con của chị H Hoi B và anh Phan Vương T.

Các vấn đề khác chị H Hoi B không yêu cầu, vì vậy không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đơn khởi kiện của chị H Hoi B, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về xác định con cho cha, mẹ”, được quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 89, Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Y Thương N có nơi cư trú tại buôn Kniêr, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Y Thương N. Tuy nhiên bị đơn anh Y Thương N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn chị H Hoi B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Vương T đều vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị H Hoi B, bị đơn anh Y Thương N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Vương T.

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Hoi B về việc yêu cầu Tòa án xác định cháu H’ Ngọc Lan B là con chung giữa chị H Hoi B với anh Phan Vương T, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị H Hoi B quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình với anh Y Thương N vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2017 tại UBND xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Đến năm 2020 chị H Hoi B đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương và đã phát sinh tình cảm, sống với nhau như vợ chồng với anh Phan Vương T và sinh ra cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020. Tại thời điểm chị H Hoi B làm giấy khai sinh cho cháu H’ Ngọc Lan B thì chị H Hoi B chưa ly hôn với anh Y Thương N nên trong giấy khai sinh của cháu H’ Ngọc Lan B đã ghi tên cha là anh Y Thương N.

Đến ngày 04/10/2022 chị H Hoi B làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Y Thương N. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H Hoi B với anh Y Thương N.

- Về con chung: Giao cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020 cho chị H Hoi B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Anh Y Thương N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản; Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Y Thương N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Hoi B và anh Y Thương N tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 07/8/2023 chị H Hoi B đăng ký kết hôn với anh Phan Vương T tại UBND xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, đến ngày 08/8/2023 anh T làm đơn yêu cầu công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus tại thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm ADN cho anh T và cháu H’ Ngọc Lan B.

Tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus xác định: Anh Phan Vương T có quan hệ huyết T bố con với H’ Ngọc Lan B, độ tin cậy đến 99,9999%.

Anh T còn làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Krông Pắc ra quyết định trưng cầu giám định ADN giữa anh T và cháu H’ Ngọc Lan B.

Tại kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phan Vương T là người cha sinh học của H’ Ngọc Lan B.

Ngày 25/3/2024 chị H Hoi B làm đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc về phần con chung, lý do: Cháu H’ Ngọc Lan B không phải là con chung giữa chị H Hoi B với anh Y Thương N.

Tại quyết định tái thẩm số 05/2024/HNGĐ-TT, ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã Hủy Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc về phần con chung và cấp dưỡng nuôi con chung liên quan đến cháu H’ Ngọc Lan B. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 88, Điều 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus và kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh để chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Hoi B. Công nhận cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020 là con chung của chị H Hoi B và anh Phan Vương T là hoàn toàn thỏa đáng, đúng quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác chị H Hoi B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn chị H Hoi B, bị đơn anh Y Thương N là người đồng bào dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền tạm ứng án, miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 88, Điều 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/8/2023 của công ty THHH đầu tư và Công nghệ Genplus và kết luận giám định ADN số 3.009-2024/KLGĐADN-TTPY, ngày 22/01/2024 của trung tâm pháp Y- Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Hoi B.

[2] Công nhận cháu H’ Ngọc Lan B, sinh ngày 12/12/2020 là con của chị H Hoi B và anh Phan Vương T.

Các vấn đề khác chị H Hoi B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị H Hoi B, bị đơn anh Y Thương N là người đồng bào dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền tạm ứng án, miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ