- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về phường, hụi"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả nguyên đơn ông Nguyễn Văn D số tiền phường còn nợ.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định ông Nguyễn Văn D; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/DS-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2025 Về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự về tiền phường, họ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn;
2. Bà Phạm Thị Thư;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Q - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 267/2025/TLST- DS ngày 12/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là số 163/2025/TLST-DS ngày 01/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự về tiền phường, họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh). (Ông D có mặt)
2. Đồng bị đơn:
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1969;
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh).
(Ông S và bà M đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh). (Bà V vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ông có quan hệ cùng xã với ông S, bà M. Khoảng tháng 01/2022 thấy nhiều người cùng xã có nói chuyện về việc tham gia phường ở nhà ông S, bà M nên ông có đến nhà ông S, bà M hỏi về việc tham gia chơi phường. Về cách thức tham gia, số tiền đóng phường của mỗi phường đều giống nhau, mỗi phường gồm 24 suất tham gia, mỗi người tham gia phường thì sẽ đóng 5.000.000 đồng/ tháng/ suất, quay vòng lấy phường lần lượt hết 24 suất. Ngoài ra còn thỏa thuận về việc phần trăm của tiền đóng phường cụ thể là: mỗi người tham gia phường khi lấy sau thì sẽ được nhận tiền phường đã đóng và 10%/suất số tiền đóng phường là tiền phần trăm nhân với số lượt lấy, trừ đi 1.000.000 đồng/ suất cho chủ phường. Hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng không lập thành văn bản.
Ông và ông S, bà M có thỏa thuận là ông tham gia phường A, phường B. Ông có hai lần chuyển tiền từ số tài khoản xxxxxxxxxx, chủ tài khoản Nguyễn Văn D đến số tài khoản 1012685007, chủ tài khoản Nguyễn Thanh S, đều là tài khoản của Ngân hàng V1 đó là: Ngày 14/9/2023 ông chuyển 5.000.000 đồng; Ngày 11/12/2023 ông chuyển 25.000.000 đồng. Ngoài ra các lần đóng phường khác ông đóng tiền mặt cho ông S, bà M. Mỗi lần ông đóng tiền mặt cho bà M, ông S thì ông S hoặc bà M đều ký vào sổ của ông trừ 2 lần ông chuyển khoản thì có sao kê của Ngân hàng. Ông S, bà M có sổ theo dõi riêng hay không thì ông không biết. Hiện nay quyển sổ theo dõi của ông đã bị ông S, bà M thu lại khi mà ông S, bà M giao Giấy trả nợ tiền phường cho ông, ông không còn sổ theo dõi để xuất trình cho Tòa án, ông chỉ còn Giấy trả nợ tiền phường để xuất trình cho Tòa án.
Các phường chỉ khác nhau về thời gian mở phường và thời gian kết thúc phường, cụ thể:
Phường 1 (từ ngày 5/12/2022 đến ngày 5/12/2023 âm lịch): ông đóng 2 suất phường nên ông đóng 10.000.000 đồng/ tháng, ông đã đóng 13 tháng (vì năm 2023 có hai tháng 2 âm lịch), tổng cộng ông đã đóng 130.000.000 đồng. Tuy nhiên chưa đến lượt lấy phường của ông thì ông S, bà M báo vỡ nợ nên ông chưa được lấy tiền phường 1. Lẽ ra đến lượt lấy phường thì ông được nhận 130.000.000 đồng tiền gốc và được nhận thêm 26.000.000 đồng tiền phần trăm, tổng cộng là 156.000.000 đồng. Do ông chưa được nhận số tiền trên nên ông cũng chưa tính trừ tiền phần trăm là 2.000.000 đồng cho chủ phường.
Phường 2 (từ tháng 12/2022 đến tháng 10/2023 âm lịch, ông không nhớ ngày cụ thể): ông đóng 3 suất phường nên ông đóng 15.000.000 đồng/ tháng, ông đã đóng 11 tháng (vì năm 2023 có hai tháng 2 âm lịch), tổng cộng ông đã đóng 165.000.000 đồng. Tuy nhiên chưa đến lượt lấy phường của ông thì ông S, bà M báo vỡ nợ nên ông chưa được lấy tiền phường 2. Lẽ ra đến lượt lấy phường thì ông được nhận 165.000.000 đồng tiền gốc và được nhận thêm 33.000.000 đồng tiền phần trăm, tổng cộng là 198.000.000 đồng. Do ông chưa được nhận số tiền trên nên ông cũng chưa tính trừ tiền phần trăm là 3.000.000 đồng cho chủ phường.
Tổng cộng ông S, bà M còn nợ ông tiền phường A, phường B 295.000.000 đồng tiền gốc và 59.000.000 đồng tiền phần trăm.
Sau khi ông đòi nhiều lần, ông S, bà M đã trả ông 170.000.000 đồng tiền gốc, cụ thể như sau:
Ngày 30/01/2024: ông S, bà M trả ông 20.000.000 đồng tiền gốc. Ông không ký vào cột người chơi phường ký tên xác nhận nhưng bà M có ký vào cột Chủ phường ký tên xác nhận. Tại vì bà M chuyển khoản nên ông không ký vào giấy đó.
Ngày 07/3/2024: ông S, bà M trả ông 150.000.000 đồng tiền gốc. Ông S, bà M còn nợ ông 125.000.000 đồng, hẹn tháng 8/2024 trả. Ông không ký vào cột người chơi phường ký tên xác nhận, bà M ký vào cột Chủ phường ký tên xác nhận.
Tuy nhiên từ đó đến nay ông đã đòi nhiều lần nhưng ông S, bà M không trả ông tiền phường còn nợ. Tòa án yêu cầu ông cung cấp tên, tuổi, địa chỉ những người tham gia các dây phường do ông tham gia thì ông không cung cấp được và ông chỉ làm ăn với bà M, hiện nay những người đó ở đâu, làm gì ông không biết để cung cấp cho Tòa án. Tiền mà ông đóng tiền phường là tiền tích góp làm ăn của cá nhân ông nhiều năm, vợ ông là bà Phạm Thị V, sinh năm 1972 không biết việc ông đóng phường, đề nghị Tòa án xem xét.
Nay ông khởi kiện yêu cầu ông S, bà M phải trả ông 125.000.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) tiền gốc, không yêu cầu trả lãi.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Ông Nguyễn Văn D là người cùng xã với bà, bà là chủ phường các suất phường mà ông D đã tham gia chơi. Bà không hô hào mà ông D tự nguyện đến nhà gặp trực tiếp bà là chủ phường với nguyện vọng tham gia chơi. Bà xác nhận đến thời điểm hiện tại bà còn nợ ông D số tiền phường là 125.000.000 đồng. Bản thân bà không hề cố tình lảng tránh hay không có ý thức trả nợ ông D số tiền phường còn nợ nêu trên. Bà sẽ cố gắng thu xếp hoàn trả dần cho ông D số tiền phường còn nợ nêu trên trong thời gian sớm nhất.
Bà không đồng ý việc ông D yêu cầu Toà án buộc chồng bà có nghĩa vụ trả ông D số tiền phường còn nợ vì đây là việc làm ăn riêng của bà, do một mình bà thực hiện, chồng bà - ông Nguyễn Thanh S không liên quan, không có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một mình bà thực hiện. Chồng bà không hề hay biết việc ông D và bà thỏa thuận về việc chơi phường như thế nào, việc này do bà và ông Dương T thoả thuận, tự xác lập giao kết với nhau. Mọi giao dịch ký kết liên quan đến việc chơi và lấy tiền phường từ khi bà là chủ phường, chỉ một mình bà ký xác nhận. Trong quá trình ông D đóng phường, nhiều khi bà không có nhà hoặc bận việc riêng, bà đã nhờ chồng bà cầm hộ, nhận hộ tiền phường, sau đó chồng bà đã trao trả đầy đủ toàn bộ số tiền phường đã nhận của ông D cho bà.
Tòa án yêu cầu bà cung cấp tên, tuổi, địa chỉ những người tham gia các dây phường do bà làm chủ phường đang có tranh chấp thì bà không cung cấp được vì hiện nay những người đó ở đâu, làm gì bà không biết để cung cấp cho Tòa án.
Hiện tại sức khoẻ của bà không được tốt, bà đang phải điều trị bệnh tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh B, quá trình điều trị của bà lâu dài, theo từng đợt theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Do đó bà xin phép được vắng mặt tại phiên tòa giải quyết vụ án.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là ông Nguyễn Thanh S trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là việc làm ăn riêng của vợ ông, do một mình vợ ông thực hiện. Ông Nguyễn Văn D là người sống cùng xã với vợ chồng ông. Việc ông D là người chơi phường do vợ ông là chủ phường chơi như thế nào ông không biết. Tất cả mọi giao dịch ký kết liên quan đến việc chơi và lấy tiền phường giữa vợ ông là chủ phường và ông D chỉ có một mình vợ ông ký xác nhận. Ông chỉ nhận hộ, cầm hộ tiền phường của ông D đóng cho chủ phường là vợ ông khi vợ ông không có nhà, bận việc riêng và ông đã bàn giao đủ cho vợ ông toàn bộ số tiền đó chứ ông không chiếm hữu, không sử dụng vào mục đích cá nhân hay vì nhu cầu thiết yếu của gia đình. Số tiền thu được hay khoản lợi có được từ việc cầm phường do vợ ông là chủ phường không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình ông. Chính vì vậy, ông không có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một mình vợ ông thực hiện, ông không có nghĩa vụ và không có trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của vợ ông với ông D. Ông xin phép vắng mặt tại tất cả các phiên làm việc của Tòa án gồm lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải, đối chất, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm liên quan đến vụ án.
Tại bản tự khai, ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị V trình bày:
Bà là vợ của ông Nguyễn Văn D. Việc chồng bà tham gia đóng phường với ông S, bà M thì bà không hề biết. Số tiền ông D đóng phường là tiền riêng của chồng bà, bà không liên quan nên không có ý kiến gì, không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà xin vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án:
Ngày 10/7/2025 nguyên đơn ông Nguyễn Văn D có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả ông số tiền phường còn nợ. Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải ngày 10/7/2025, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến về nội dung trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày: Ông giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 10/7/2025, xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả ông số tiền phường còn nợ. Nay ông chỉ yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền 125.000.000 đồng tiền phường còn nợ. Căn cứ khởi kiện của ông là bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 12 đã nộp cho Tòa án. Ngoài tài liệu trên thì ông không còn tài liệu nào khác liên quan đến khoản nợ tiền phường, họ. Ông cũng xác định ngoài số tiền nợ phường nói trên, ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị M không còn nợ ông khoản tiền nào khác. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị M; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị V vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 117, Điều 357, Điều 280, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 15, 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả tiền phường còn nợ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D: Buộc bà Nguyễn Thị M phải trả cho ông D số tiền phường còn nợ là 125.000.000 đồng.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 6.250.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Văn D 3.125.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh S, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự: Tại đơn khởi kiện ban đầu, ông Nguyễn Văn D khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M phải trả tiền phường còn nợ. Quan hệ giữa các bên là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong giao dịch dân sự về tiền phường, các bên không tự giải quyết được nên nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp giao dịch dân sự về tiền phường, họ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định ông Nguyễn Văn D là nguyên đơn, ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M là đồng bị đơn, bà Phạm Thị V – vợ ông Nguyễn Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú ở phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh). Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi, thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Tại đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D yêu cầu ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M phải liên đới trả ông số tiền 125.000.000 đồng là tiền phường còn nợ. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền phường còn nợ. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả tiền phường còn nợ.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn D về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả 125.000.000 đồng tiền phường còn nợ, Hội đồng xét xử thấy:
Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 12 đã xuất trình cho Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị M xuất trình 01 bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 12. Các Giấy trả nợ tiền phường do các bên xuất trình có cùng số, đều thể hiện các nội dung chủ phường Nguyễn Thị M; người chơi phường ông Nguyễn Văn D; có chữ ký của ông D và bà M; tính đến ngày 07/3/2024 là lần chốt nợ cuối cùng thì bà Nguyễn Thị M - chủ phường còn nợ ông D số tiền 125.000.000 đồng. Các Giấy trả nợ tiền phường nêu trên đều được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nên đủ điều kiện là chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều có lời khai thừa nhận việc ông D và bà M thỏa thuận chơi phường là có thật, các bên tham gia chơi phường là tự nguyện. Ông D đã tham gia 2 phường của bà M gồm phường A, phường B; mỗi phường gồm 24 suất, mỗi người chơi phường phải đóng 5.000.000 đồng/tháng/suất. Ông D tham gia 2 suất của phường 1 và 3 suất của phường 2, tổng cộng 2 phường ông D đã đóng số tiền gốc là 295.000.000 đồng. Ông D đã được bà M thanh toán một phần tiền phường gốc là 170.000.000 đồng, chưa được thanh toán lãi. Trong các “Giấy trả nợ tiền phường” đều ghi số tiền phường bà M còn nợ ông D là 125.000.000 đồng, nguyên đơn và bà M - bị đơn đều xác nhận số tiền phường (gốc) bà M còn nợ ông D là 125.000.000 đồng. Đây là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc bà M (chủ phường) không trả ông D (người chơi phường) số tiền 125.000.000 đồng tiền phường (gốc) còn nợ là vi phạm nghĩa vụ của chủ phường theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15, Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, buộc bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền 125.000.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về lãi suất: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% x 125.000.000 đồng = 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí 3.125.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002911 ngày 12/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2, khoản 3, Điều 68; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 217; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 116; Điều 117; Điều 274; Điều 280; khoản 1 Điều 351; Điều 357; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 15; Điều 18; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả nguyên đơn ông Nguyễn Văn D số tiền phường còn nợ.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn ông Nguyễn Văn D số tiền phường còn nợ là 125.000.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị M phải chịu 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí 3.125.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002911 ngày 12/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh; - Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh; - Các đương sự, - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoa |