- Tranh chấp gì? án hình sự — "L. H. P phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo L. H. P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HSST Ngày: 22.01.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều My
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Hoan
Ông Đặng Như Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Vân Giang - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 279/2023/TLST-HS ngày 22.12.2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: L. H. P, sinh ngày 07.8.1994; giới tính: nam; nơi cư trú: số 19 phố H. T, phường L. T. T, quận H, Thành phố H; nơi ở hiện tại: số 6, ngõ 367 phố P. T, phường P. T, quận H, Thành phố H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: không rõ bố; con bà L. T. K (đã chết); chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: có 02 tiền án
- Bản án số 271 ngày 14.11.2019, Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Ra trại ngày 06/4/2020) (Chưa xoá án)
- Bản án số 282 ngày 17.11.2020, Toà án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội, xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Ra trại 08/10/2021) (Chưa xoá án).
Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 26.9.2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh L. M. Đ, sinh năm 1977; trú tại: P1408 - G2, chung cư F, số 2 K. G, phường K. G, quận T, thành phố H - vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 26/9/2023, L. H. P sau khi chơi game cùng anh L. Q. H xong thì ra về. P mượn của anh H 01 chiếc xe Honda SH mode màu đỏ mận, BKS: 29E2 – 350.91 để đi có việc. Anh H đồng ý và giao xe cho P. P điều khiển chiếc xe trên đến chung cư F số 2 K. G, phường K. G, quận T, Thành phố H để bơi tại bể bơi của chung cư. P gửi xe tại hầm B1 chung cư, lấy vé ngày tại barrie soát vé sau đó lên bể bơi nhưng chưa mở cửa nên quay lại tầng hầm B1. Phát hiện tại đây có nhiều xe đạp không khoá, P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. P dùng tay dắt một chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu GLX màu xám, đen, đỏ dán tem có biểu tượng hình xe đạp số 958 của anh L. M. Đ đi ra theo lối barrie đầu ra cửa hầm, đi sát sau một chiếc xe máy nhằm trốn tránh việc quẹt thẻ nhưng bị anh Đ. Đ. C giữ lại, yêu cầu quẹt thẻ. P nói dối rằng quên mang tiền và thẻ nên xin quay ra sau và dắt xe đạp quay lại vị trí cũ. Sau đó, P đi lên theo lối sảnh G1, ra quán nước vỉa hè ngồi chờ bể bơi mở cửa. Tại đây, P nhặt được 01 thẻ cư dân chung cư Fivestar số 97 giống với thẻ gửi xe của mình. Nghĩ rằng có thể dùng thẻ này để dùng thẻ này để đối phó với bảo vệ nếu thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên bị phát hiện, P quay lại hầm để thực hiện hành vi trộm cắp của mình. Đến khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày, P điều khiển xe máy SH mode ra trước thì phát hiện bảo vệ đã đổi ca giờ là anh T. T. T. ,P để chiếc xe SH mode trên tại sảnh của toà nhà và đi bộ quay lại hầm gửi xe, dắt chiếc xe đạp trên đi ra theo đường barrie đầu ra và lén lút đi sát sau một chiếc xe máy nhằm trốn tránh việc quẹt thẻ. Lúc này, anh T phát hiện và yêu cầu P quẹt thẻ, P đưa thẻ cho anh T kiểm tra nhưng thẻ báo lỗi. Anh T hỏi về nguồn gốc xe nhưng P không trả lời được do đó anh T đã báo Cơ quan công an để giải quyết. Khi Công an phường K. G đến làm việc, P khai nhận bản thân có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp trên.
Sau khi phát hiện sự việc, anh L. M. Đ đã đến cơ quan công an trình báo về toàn bộ nội dung sự việc.
Tại cơ quan điều tra, L. H. P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Cơ quan công an đã thu giữ của L. H. P:
- 01 thẻ cư dân ra vào toà nhà Fivestar garden số 01 đường K. G phường K.G, quận T, Thành phố H trên thẻ ký hiện số “No.9744”.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đỏ mận, đeo BKS: 29E2-350.91, SM: JF51E0634311, SK: RLHJF5133GY323026
- 01 xe đạp thể thao màu xám, đỏ, đen khung xe có chữ GLX, dán tem có biểu tượng hình xe đạp và số 958.
- 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng có mặt dây chuyền hình tam giác bằng kim loại màu trắng.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, đen có hoa văn màu vàng;
- 01 khuyên tai bằng kim loại màu trắng;
- 01 thuốc lá điện tử màu xanh có chữ aspire và Favostix.
Tại bản kết luận định giá số 200 ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân quận Thanh Xuân kết luận:
- 01 xe đạp điện thể thao màu xám, đen đỏ trên khung xe có chữ GLX, dán tem có biểu tượng hình xe đạp và số “958” đã qua sử dụng. Tang vật thu giữ được, thời điểm định giá tháng 9.2023 trị giá 2.200.000 đồng.
Đối với chiếc xe đạp thể thao màu xám, đỏ, đen khung xe có chữ GLX, dán tem có biểu tượng hình xe đạp và số 958, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh L. M. Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Thanh Xuân đã trao trả chiếc xe trên cho anh Đ. Anh Đ đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho P.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đỏ mận, đeo BKS: 29E2-350.91, SM: JF51E0634311, SK: RLHJF5133GY323026, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị N. T. T. H1 là mẹ của anh H giao cho anh H sử dụng, sau đó anh H cho L. H. P mượn để đi có việc. Về ý thức chủ quan, chị H1 và anh H đều không biết P sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Thanh Xuân đã trao trả chiếc xe trên cho chị H1. Chị H1 đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì khác.
Đối với 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng có mặt dây chuyền hình tam giác bằng kim loại màu trắng; 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, đen có hoa văn màu vàng; 01 khuyên tai bằng kim loại màu trắng; 01 thuốc lá điện tử màu xanh có chữ aspire và Favostix là tài sản cá nhân của P không sử dụng vào mục đích phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Thanh Xuân ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trao trả cho chị L. T. H là chị gái họ của L. H. P.
Đối với chiếc thẻ cư dân ra vào toà nhà Fivestar garden số 01 đường K. G, phường K. G, quận T, Thành phố H trên thẻ ký hiện số “No.9744” qua xác định là của anh Đ. X. N, sinh năm 1983, HKTT tại P0511, G1, chung cư F Garden, số 2 đường K. G, quận T, Thành phố H. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc thẻ trên cho anh N, anh N đã nhận lại, không có đề nghị gì khác.
Tại bản cáo trạng số 257/CT-VKS ngày 30.11.2023, Viện kiểm sát nhân quận Thanh Xuân đã truy tố L. H. P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L. H. P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh L. M. Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy tại Cơ quan điều tra, anh Đ đã có lời khai đầy đủ, đã được nhận lại chiếc xe đạp, không có yêu cầu bồi thường dân sự, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân vẫn giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L. H. P mức án từ 24 đến 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26.9.2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự, do bị hại không yêu cầu nên không xét.
Trong lời nói sau cùng, L. H. P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 26/9/2023, L. H. P có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe đạp thể thao màu xám, đỏ, đen khung xe có chữ GLX, dán tem có biểu tượng hình xe đạp và số 958 trị giá 2.200.000 đồng của anh L. M. Đ giao cho bảo vệ toà chung cư trông giữ tại hầm B1, chung cư Fsố 2 K. G, phường K. G, quận T, Thành phố H; hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với lỗi cố ý khi đã tái phạm của bản án trước, chưa được xóa án tích do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân, cần xử phạt nghiêm minh. Bị cáo là người đủ 18 tuổi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân, không làm chủ được bản thân, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thể hiện sự coi thường pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án về tội danh xâm phạm đến quyền sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, do vậy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết nặng.
. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
. Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh L. M. Đ đã nhận lại tài sản, không có đề nghị bồi thường do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo L. H. P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng:
- Điểm g khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38, điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Khoản 4 điều 106, các điều 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
- Xử phạt: Bị cáo L. H. P 24(hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày 26.9.2023.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo L. H. P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh L. M. Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. N¬i nhËn:
| - Bị cáo, bị hại; - VKSND quËn Thanh Xu©n; - TAND cấp cao tại Hà Nội; TAND TP Hà Nội; - Công an, Chi côc THA Q. Thanh Xu©n; - L u hå s¬ vô ¸n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Kiều My |