- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Thành Đạt và Trần Gia Đạt phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2024/HSST Ngày 26/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hữu Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hiền - Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Tam Giang và bà Nguyễn Thị Hà - Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T1 - Sinh năm 2005, tại huyện Y, tỉnh B.
- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
- Nơi ĐKHTT: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh B; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Không rõ là ai và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 chị em. Bị cáo là con thứ ba. Vợ con chưa có.
- Tiền án: Tại bản án số 87/2023/HSST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh B xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
- Tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Trần Gia Đ1 - Sinh ngày 04/11/2007, tại huyện Y, tỉnh B. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
- Nơi ĐKHTT: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh B. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không Học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn Đ2, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Kiều A, sinh năm 1988; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ con chưa có.
- Tiền án; Tiền sự: Không.
- Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị can tại ngoại tại địa phương.
3. Nguyễn Thành Đ3 - Sinh ngày 07/02/2007, tại huyện Y, tỉnh B. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
- Nơi ĐKHTT: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh B.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị B
- Sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có hai anh em. Bị cáo là con thứ nhât. Vợ con chưa có.
- Tiền án; Tiền sự: Không.
- Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị can tại ngoại tại địa phương.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Gia Đ1: Ông Nguyễn Minh T2 , sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh B. (là bác ruột của bị cáo Gia Đ1) Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Thành Đ3: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh B.( là bác ruột của bị cáo Thành Đ3) Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Gia Đ1 và Thành Đ3: Bà Đặng Thị H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
Đi ̣a chi: Sổ
́ 08, đườ ng P, phườ ng S, thành phố B, tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Chị Đào Thị T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh B.(vắng mặt).
- Người đại diện cho bị cáo Thành Đ3 và Gia Đ1: Ông Ngô Quý V - Phó Bí thư huyện đoàn huyện Y (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Gia Đạt sinh năm 2007, hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Thành Đạt sinh năm 2007, HKTT: Thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Văn Trí sinh năm 2005, HKTT: Thôn Phong Nẫm, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là bạn với nhau, đều là các đối tượng mải chơi game và không có việc làm ổn định. Trí là đối tượng đang trong thời gian chấp hành án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 29/12/2023, Trí, Thành Đạt và Gia Đạt cùng rủ nhau đi đến quán game “HC Gaming” ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, để chơi game và ăn ngủ tại đây. Đến khoảng 10 giờ ngày 01/01/2024, do Trí, Thành Đạt và Gia Đạt hết tiền để chơi game nên chủ quán game không cho Trí, Thành Đạt và Gia Đạt chơi nữa. Sau đó, Trí, Thành Đạt và Gia Đạt đi bộ lang thang quanh khu vực thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Phong. Trí rủ Thành Đạt và Gia Đạt đi vào phòng trọ của anh Lương Văn Tùng sinh năm 2005, trú tại: huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá là bạn của Trí đang thuê trọ tại nhà ông Nguyễn Văn Hiền sinh năm 1976, ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, Bắc Ninh để nghỉ ngơi, Thành Đạt và Gia Đạt đồng ý. Sau đó, Trí, Thành Đạt và Gia Đạt đi đến phòng trọ của anh Tùng ở trên tầng 2 của khu nhà trọ. Khi đến khu nhà trọ của anh Tùng, Trí, Thành Đạt và Gia Đạt vào bên trong sân khu để xe, đi lên tầng 2 theo lối cầu thang, Thành Đạt đi sau cùng. Lúc này, Thành Đạt phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đỏ, biển kiểm soát (BKS): 98D1-570.82 của chị Đào Thị Trang sinh năm 1993, HKTT: Thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang dựng ở sân khu nhà trọ của ông Hiền. Xe mô tô dựng đầu hướng vào trong tường, đuôi xe hướng chếch chéo ra đường, chìa khoá vẫn cắm vào ổ khoá xe. Lúc này, Thành Đạt nảy sinh ý định sẽ rủ Gia Đạt và Trí trộm cắp chiếc xe mô tô này bán lấy tiền tiêu sài vì cả ba người đều đã tiêu hết tiền. Sau đó, Thành Đạt đi lên tầng 2 thì gặp Trí và Gia Đạt đang nằm ở trong phòng anh Tùng nên Thành Đạt nói với Trí và Gia Đạt là “Dưới kia có xe máy vẫn đang cắm chìa khoá ở xe”. Thành Đạt bảo Gia Đạt và Trí ra cửa sổ phòng trọ, Thành Đạt chỉ về hướng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu đỏ, BKS: 98D1-570.82 dựng dưới sân. Sau khi, nhìn thấy chiếc xe mô tô thì Thành Đạt bảo Gia Đạt đi xuống trộm cắp chiếc xe mô tô này nhưng Đạt chưa đồng ý. Sau đó, Thành Đạt vẫn tiếp tục bảo Gia Đạt đi xuống dưới tầng 01 trộm cắp chiếc xe mô tô này, khi nào trộm cắp được chiếc xe mô tô thì đi ra quán game 286 ở thôn Yên Lãng, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, đợi Thành Đạt và Trí đi ra đấy sau thì Đạt đồng ý. Sau đó, Gia Đạt đổi áo khoác cho Trí rồi đi bộ xuống tầng một còn Thành Đạt và Trí đứng ở trong phòng trọ nhìn qua cửa sổ xem Đạt khi nào trộm cắp được chiếc xe mô tô này thì đi bộ ra quán nét đợi. Sau đó, Gia Đạt đi bộ đến gần vị trí chiếc xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, BKS: 98D1-570.82 ngồi lên yên xe lùi đít xe ra khoảng 03m thì Gia Đạt quay được đầu xe ra đường, nổ máy xe đi. Thành Đạt và Trí quan sát thấy Gia Đạt đã trộm cắp được chiếc xe mô tô thì ở lại trong phòng khoảng 02 phút sau thì đi bộ đến quán nét 286 ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung đợi Gia Đạt đến.Gia Đạt điều khiển xe đi về hướng Khu công nghiệp Yên Phong mở rộng rồi đi tiếp lên đường đê thuộc địa phận xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong thì dừng xe lại tháo 02 chiếc gương xe ra vứt xuống rìa đê. Sau đó, Gia Đạt mở cốp xe ra kiểm tra phát hiện bên trong cốp xe có 01 chiếc ô, 01 áo mưa và 01 chiếc túi xách màu trắng. Đạt mở chiếc túi xách màu trắng ra kiểm tra thấy bên trong có 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank, 01 một thẻ ngân hàng Wooribank, 01 giấy phép lái xe hạng A1 tất cả đều mang tên Đào Thị Trang và số tiền 700.000 đồng. Gia Đạt lấy số tiền 700.000 đồng cất vào túi quần bên trái phía trước rồi vứt toàn bộ số giấy tờ còn lại xuống rìa đê tại vị trí Đạt đã vứt 02 chiếc gương xe trước đó. Sau đó, Gia Đạt điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi đến quán nét 286 tìm Thành Đạt và Trí. Khi Gia Đạt đến thì Thành Đạt có hỏi là “Bạn đi đâu mà lâu thế”. Đạt trả lời là “Tôi vừa đi tháo gương và vứt các giấy tờ linh tinh”. Sau đó Trí bảo là “Ở đây không được, đi lên Quế võ” thì cả ba đồng ý. Gia Đạt ngồi trước điều khiển xe chở Trí ngồi giữa và Thành Đạt ngồi sau cùng. Khi đi được một đoạn thì Thành Đạt hỏi Gia Đạt là “Trong cốp xe có gì không” thì Gia Đạt lấy 700.000 đồng ra đưa cho Thành Đạt rồi Gia Đạt tiếp tục lái xe đi về hướng huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Khi đến nơi cả ba vào một quán sửa xe không rõ của ai, ở đâu để mượn cà lê 10 để Thành Đạt tháo BKS cho vào trong cốp xe cất. Sau đó, cả ba đi vào quán game ở thuộc huyện Quế Võ, không rõ địa chỉ được khoảng 02 tiếng đồng hồ thì không chơi nữa cùng nhau đi ăn tiêu hết số tiền trộm cắp được. Sau đó, Trí, Thành Đạt và Gia Đạt đi về xã Đông Phong, huyện Yên Phong để Trí về nhà có việc. Còn Gia Đạt và Thành Đạt đến quán game 286 để chơi.
Trưa ngày 01/01/2024, sau khi mất xe chị Trang có đơn trình báo gửi Công an huyện Yên Phong, đến chiều tối cùng ngày thì Trí, Gia Đạt và Thành Đạt đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân.
Vật chứng thu giữ: Nguyễn Văn Trí tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, BKS: 98D1-570.82. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Phong thu giữ 02 đoạn video trích xuất từ Camera nhà ông Hiền ghi lại sự việc xảy ra ngày 01/01/2024 lưu trong 01 đĩa DVD.
Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong ra Yêu cầu định giá tài sản số 03/YCĐGTS-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Yên Phong, định giá: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, đen, BKS: 98D1-570.82.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 02/01//2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Yên Phong, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, BKS: 98D1-570.82 đã qua sử dụng trị giá 16.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, đen, BKS: 98D1-570.82 đăng ký xe mang tên chị Đào Thị Trang sinh năm 1993, HKTT: Thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đây là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của chị Trang. Ngày 15/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Trang là đúng quy định.
Về bồi thường dân sự: Chị Đào Thị Trang đã nhận lại chiếc túi xách màu trắng bên trong có 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank, 01 một thẻ ngân hàng Wooribank, 01 giấy phép lái xe hạng A1 tất cả đều mang tên Đào Thị Trang.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn Trí, Trần Gia Đạt và Nguyễn Thành Đạt đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSYP ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Nguyễn Văn Trí, Trần Gia Đạt và Nguyễn Thành Đạt về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trí, Thành Đạt và Gia Đạt đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Trang số tiền 700.000 đồng và 01 xe máy BKS 98D1- 570.82 cùng các giấy tờ liên quan. Chị Trang đã nhận số tiền trên cùng hiện vật và không có yêu cầu bồi thường gì khác về mặt dân sự,.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên phong giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Thành Đạt và Nguyễn Gia Đạt phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng đối với bị cáo Trí theo khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 17, 56, 58, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn trí từ 18 tháng đến 20 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 87/2023/HSST ngày 18/7/2023 của Tòa án huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 36 đến 38 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thành Đạt và Nguyễn Gia Đạt theo khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 17, 58, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Gia Đạt và Nguyễn Thành Đạt mỗi bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng.
Lưu hồ sơ 01 đĩa video ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp; 01 đĩa (CD) ghi âm việc hỏi cung bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với ba bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Người bào chữa cho bị hại trình bày bản luận cứ, đồng ý với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đạt và Nguyễn Gia Đạt ra Tòa án để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tôi Đồng ý với đề nghị của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân bị cáo. Hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo đã tự nguyện trả lại tài sản trộm cắp cho người bị hại, thay mặt bị cáo tôi đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ nhất hình phạt cho hai bị cáo. Xét thấy bị cáo và người bào chữa cho bị cáo hai bị cáo đề nghị. Vì vậy hai bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị cho bị cáo hưởng án treo và mức án thấp nhất.
Đại diện cho hai bị cáo Thành Đạt và Gia Đạt nhất trí với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
Hai bị cáo Thành Đạt và Gia Đạt nhất trí với ý kiến của người bào chữa cũng như người đại diện cho hai bị cáo.
Bị cáo Trí nhất trí không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Ba bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; khi được nói lời sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho hưởng án treo.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của hai bị cáo Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Thành Đạt và Nguyễn Gia Đạt tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, biên bản hiện trường, cũng như lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2024, tại khu nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Văn Hiền ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong. Trần Gia Đạt, Nguyễn Thành Đạt và Nguyễn Văn Trí đã cùng nhau trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, BKS: 98D1-570.82 trị giá 16.000.000 đồng và số tiền 700.000 đồng của chị Đào Thị Trang. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 16.700.000 đồng. Chiếc xe mô tô đã thu hồi trả cho chị Trang.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận ba bị cáo Trí, Thành Đạt và Gia Đạt phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên phong đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của ba bị cáo Trí, Thành Đạt và Gia Đạt là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây thiệt hại về vật chất cho người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý vì mục đích của bản thân. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời, cần phải có một mức hình phạt nghiêm phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét về vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo Thành Đạt phát hiện chiếc xe máy vẫn cắm chìa khóa đã bảo Gia Đạt trộm cắp nên khi lượng hình cần cho bị cáo mức án cao hơn Gia Đạt.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Gia Đạt và Thành Đạt không có tình tiết tăng nặng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn Trí đang trong thời gian thử thách: Tại bản án số 87/2023/HSST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn Trí 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xét thấy bị cáo Trí có 01 tiền án về tội “Gấy rối trật tự công cộng” trong thời gian thử thách bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục phạm tội, HĐXX nhận thấy bị cáo Trí coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Gia Đạt và Thành Đạt phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ba bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo đã tự nguyện trả lại tài sản trộm cắp cho người bị hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. (bị cáo Trí không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xét thấy bị cáo Thành Đạt và Gia Đạt phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng các quy định của người dưới 18 tuổi, mức hình phạt được áp dụng không quá ¾ mức hình phạt quy định của điều luật được nên áp dụng cho bị cáo theo Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đối chiếu với các quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo Thành Đạt và Gia Đạt ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với ông Nguyễn Văn Hiền chủ khu trọ và anh Lương Văn Tùng không biết việc các bị can Trộm cắp xe mô tô của chị Trang nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
Liên quan trọng vụ án: Đối với người cho các bị can khai mượn chiếc cờ lê để tháo BKS xe mô tô. và chủ quán game nơi các bị cáo dùng tiền trộm cắp được của chị Trang chơi giam. Các bị can không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
6] Về vật chứng: Lưu hồ sơ 01 đĩa video ghi lại hình ảnh Trí, Thành Đạt và Gia Đạt trộm cắp tài sản; 01 đĩa (CD) ghi âm việc hỏi cung bị cáo.
Về án phí: Hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Thành Đạt và Trần Gia Đạt phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn Trí theo khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 17, 56, 58, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Trí 18 (Mười tám) tháng tù giam thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024. Tổng hợp hình phạt với bản án số 87/2023/HSST ngày 18/7/2023 của Tòa án huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thành Đạt và Trần Gia Đạt theo khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 17, 58, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thành Đạt 12 (mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2024.
Xử phạt: Trần Gia Đạt 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2024.
Giao bị cáo Trần Gia Đạt cho UBND xã Yên Trung huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Nguyễn Thành Đạt cho UBND xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Lưu hồ sơ 01 đĩa video ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tài sản; 01 đĩa (CD) ghi âm việc hỏi cung bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc ba bị cáo: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng Điều 331, 333, 337 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp cho bị cáo và bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA,THADS huyện Yên phong; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH ____________ BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi … giờ … phút, ngày 23 tháng 12 năm 2020; Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hữu Hiển. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi và ông Nguyễn Sự. tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo: Lường Văn Tùng, sinh năm 1991. HKTT: Xóm Kim Sơn, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: quyết nhất trí: 3/3. Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329, 331,332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3 hạn tù tính từ ngày 16/9/2020. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh kim loại màu bạc dài 16cm, có một đầu uốn tròn, đường kính 1cm; 01 thanh kim loại dài 21cm màu đen, đường kính 0,8cm; 01 khóa màu vàng kim loại có chữ HENGCHUAN kèm 03 chìa khóa. Bắc Ninh với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Ninh, tỉnh Bắc Ninh, 01 thẻ đeo có dây của công ty Goertek mang tên Lường Văn Tùng mã số 0745497. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2020 giữa Công an thành phố Bắc Ninh với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lường Văn Tùng phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung không áp dụng đối với bị cáo. hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. ngày nhận được tống đạt bản án xư. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi … giờ … phút, ngày 23 tháng 12 năm 2020. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Quang Hợi Nguyễn Sự | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Hữu Hiển CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _____________________________________ Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST-HS ngày 26 Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ 1. Về tội danh: Lường Văn Tùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Kết quả biểu 2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 3. Về mức hình phạt: Xử phạt Lường Văn Tùng 12 (Mười hai) tháng tù, thời Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47; 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2020 giữa Công an thành phố Trả lại công ty Goertek có địa chỉ tại khu công nghiệp Quế Võ, thành phố Bắc Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Hữu Hiển |