vanban.org

Bản án 13/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Tuyên án 01/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Huỳnh Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/3/2024. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HSST
Ngày: 01-03-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Danh.

Ông Đặng Văn Vững.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Đỗ Ngọc Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Văn P, sinh ngày 28/02/1971.

Nơi thường trú: A N, Phường C, Quận A, Tp .; Nơi ở hiện tại: 3 Đường số F, phường B, quận B, Tp .; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: chạy xe ôm; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn N và bà Huỳnh Thị L (đều đã chết); Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Trúc P1, có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1/ Trần Bửu C, sinh năm: 1937 (vắng mặt).

Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

2/ Phan Ngọc T, sinh năm: 1935 (vắng mặt).

Cư trú: 1 N, Phường A, Quận A, Tp ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Trần Thị Ngọc Y, sinh năm: 1958 (vắng mặt).

Cư trú: 1 N, Phường G, Quận A, Tp ..

2/ Lê Thị Ngọc L1, sinh năm: 1983 (vắng mặt).

Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An

3/ Đặng Thị T1, sinh năm: 1974 (vắng mặt).

Cư trú: 73 L, phường B, quận B, Tp ..

4/ Nguyễn Đình C1, sinh năm: 1971 (vắng mặt).

Cư trú: 122 L, Khu phố A, phường B, quận B, Tp ..

5/ Võ Thị N1, sinh năm: 1954 (vắng mặt).

Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

6/ Nguyễn Thị Trúc P1, sinh năm: 1972 (vắng mặt).

Cư trú: 128/340 Nguyễn Chí T2, Phường C, Quận A, Tp ..

7/ Vũ Khắc M, sinh năm: 1936 (vắng mặt).

Cư trú: 132 Q, phường P, quận T, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 15/12/2020, Huỳnh Văn P điều khiển xe mô tô biển số 71B3 – 264.19 đến tịnh thất Tịnh Liên thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, do chị Lê Thị Ngọc L1 quản lý, bà Trần Bửu C là chủ sở hữu, để làm công quả. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, P nảy sinh ý định lấy trộm chân nến đem bán lấy tiền tiêu xài nên P đi lên khu vực chánh điện lấy trộm: 01 cặp chân nến trơn, cao 51 cm, dĩa rộng 29 cm tại bàn thờ Phật; 01 cặp chân nến có hoa văn, cao 46 cm, dĩa rộng 23,5 cm trên bàn thờ Tổ Sư; 01 cặp chân nến có hoa văn, cao 33 cm, dĩa rộng 17,5 cm trên bàn thờ quan âm Chuẩn Đ và 01 cặp chân nến có hoa văn, cao 31 cm, dĩa rộng 17 cm trên bàn thờ Cửu Huyền. Sau đó, P tháo rời các cặp chân nến cất giấu vào bao nylon để lên xe mô tô biển số 71B3 – 264.19, rồi chở đến tiệm thu mua phế liệu tại địa chỉ: A L, Khu phố A, phường B, quận B, Tp ., bán cho anh Nguyễn Đình C1 được số tiền 880.000 đồng, P đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 95/KLĐG ngày 19/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận các tài sản vừa nêu có tổng giá trị là 3.920.000 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, Huỳnh Văn P khai nhận trước đó còn thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khoảng 11 giờ ngày 10/12/2020, P biết được nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T kế bên tịnh thất Tịnh Liên không có người trông coi nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà T lấy trộm lư hương và chân nến để bán lấy tiền tiêu xài. P đi vào khu vực nhà trên lấy trộm tại bàn thờ Cửu Huyền gồm: 01 bộ lư hương, cao 64 cm, rộng 23,5 cm và 01 cặp chân nến trơn, cao 47 cm, dĩa rộng 23,5 cm; lấy trộm tại bàn thờ Phật 01 cặp chân nến trơn, cao 42 cm, dĩa rộng 25 cm. Sau đó, P tháo rời lư hương và chân nến ra cất giấu vào bao nylon để lên xe mô tô biển số 71B3 – 264.19, rồi chở đến tiệm thu mua phế liệu tại địa chỉ: số G L, phường B, quận B, Tp ., bán cho chị Đặng Thị T1 được số tiền 1.950.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 92/KLĐG ngày 19/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận các tài sản vừa nêu có tổng giá trị là 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Lần thứ hai: khoảng 11 giờ ngày 13/12/2020, P tiếp tục đột nhập vào nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T lấy trộm tại bàn thờ Cửu Huyền nhỏ: 01 bộ lư hương, cao 55 cm và và 01 cặp chân nến trơn, cao 40 cm. Sau đó, P tháo rời lư hương và chân nến ra cất giấu vào bao nylon để lên xe mô tô biển số 71B3 – 264.19, rồi chở đến khu vực thuộc quận B, Tp ., bán cho một người phụ nữ thu mua ve chai không rõ họ tên, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 93/KLĐG ngày 19/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận các tài sản vừa nêu có tổng giá trị là 3.460.000 đồng (Ba triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

Lần thứ ba: khoảng 11 giờ ngày 14/12/2020, P tiếp tục đột nhập vào nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T lấy trộm trên tủ thờ 01 cặp chân nến trơn, cao 37,5 cm, dĩa rộng 22,5 cm. Sau đó, P tháo rời chân nến ra cất giấu vào bao nylon để lên xe mô tô biển số 71B3 – 264.19, rồi chở đến tiệm thu mua phế liệu tại địa chỉ: A L, khu phố A, phường B, quận B, Tp ., bán cho anh Nguyễn Đình C1 được số tiền 520.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 94/KLĐG ngày 19/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An, kết luận các tài sản vừa nêu có trị giá 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSCG, ngày 04/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Huỳnh Văn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ: 01 bộ lư hương và 02 cặp chân nến do chị Đặng Thị T1 giao nộp; 05 cặp chân nến do anh Nguyễn Đình C1 giao nộp. Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho chủ sở hữu là bà Trần Bửu C bốn cặp chân nến và bà Phan Ngọc T một bộ lư và ba cặp chân nến, là phù hợp. Đối với 01 xe mô tô biển số 71B3 – 264.19 do bị cáo giao nộp. Cơ quan cảnh sát điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Trúc P1 (vợ bị cáo) cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại, nhưng bị cáo sử dụng để lấy trộm tài sản chị P1 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho chị P1 là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trần Bửu C và bà Phan Ngọc T đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị T1 và anh Nguyễn Đình C1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền mua tài sản. Nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo trong lời nói sau cùng: bị cáo nhận tội, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến là không tiếp tục yêu cầu ông Đặng Huỳnh L2 – Luật sư – Văn phòng luật sư Huyền V – Đoàn luật sư T3 tham gia tố tụng để bào chữa cho bị cáo.

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2020 đến ngày 15/12/2020, Huỳnh Văn P đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, cụ thể: ngày 10/12/2020, P lấy trộm 01 bộ lư hương và 02 cặp chân nến, trị giá 4.750.000 đồng tại nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T; ngày 13/12/2020, P tiếp tục lấy trộm 01 bộ lư hương và 01 cặp chân nến, trị giá 3.460.000 đồng tại nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T; ngày 14/12/2020, P tiếp tục lấy trộm 01 cặp chân nến trị giá 630.000 đồng tại nhà thờ tổ của bà Phan Ngọc T; ngày 15/12/2020, tại tịnh thất Tịnh Liên, P lấy trộm 04 cặp chân nến trị giá 3.920.000 đồng của bà Trần Bửu C. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà P đã chiếm đoạt là 12.760.000 đồng. Sau khi lấy trộm được tài sản, bị cáo P đều sử dụng xe mô tô biển số 71B3 – 264.19 chở tài sản trộm được đến bán cho chị Đặng Thị T1, anh Nguyễn Đình C1 và một người phụ nữ không rõ nhân thân thu lợi được số tiền 4.850.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 114/HSST, ngày 27 tháng 10 năm 2021, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 01 năm 04 tháng tù. Sau đó bị cáo P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bản án hình sự phúc thẩm số 75/2023/HSPT, ngày 16 tháng 06 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc để điều tra lại theo thủ tục chung, với lý do xác định sai tư cách bị hại và bị cáo Huỳnh Văn P kêu oan, không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà do ông M ở trọ số B, Miếu B, phường B, quận B, Tp . thực hiện hành vi trộm tài sản. Quá trình điều tra lại và tại phiên tòa sơ thẩm lần 2, bị cáo P thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và trình bày là do sợ bị tù, nên trước đây khai là do đối tượng tên “M” thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo 04 lần trộm cắp tài sản, trong đó có 03 lần giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng, đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với chị Đặng Thị T1 và anh Nguyễn Đình C1 đã mua tài sản do bị cáo P bán, nhưng cả hai không biết đó là tài sản do bị cáo P trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C không xem xét xử lý. Đối với người phụ nữ đã mua tài sản mà P bán vào ngày 13/12/2020, không xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.

Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định 01 (một) xe mô tô biển số 71B3 – 264.19 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Trúc P1 (là vợ bị cáo) cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại, nhưng bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, chị P1 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho chị P1. Đối với 01 bộ lư hương và 02 cặp chân nến do chị Đặng Thị T1 giao nộp; 05 cặp chân nến do anh Nguyễn Đình C1 giao nộp. Cơ quan cảnh sát điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Trần Bửu C (bốn cặp chân nến) và bà Phan Ngọc T (một bộ lư và ba cắp chân nến) nên đã trao trả cho các chủ sở hữu. Là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trách nhiệm dân sự: bị hại bà Trần Bửu C đã nhận lại tài sản bị mất, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 333) không yêu cầu bồi thường và bị hại bà Phan Ngọc T đã nhận lại tài sản bị mất, mặc dù không đủ, còn một bộ lư và một cặp chân nến chưa thu hồi được, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 340-341) không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị T1 và anh Nguyễn Đình C1 tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 79 đến 82) không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua tài sản do bị cáo bán, nên không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Huỳnh Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/3/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Bắt, tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (01/3/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ