vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 09/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chảo Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Chảo Văn C 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 30/11/2023. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chảo Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chảo Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày 09/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh;

Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sần Quang Sơn, ông Trần Ngọc Đính và bà Nguyễn Thị Kim.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Cao Xuân Bộ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa trực tuyến công khai với điểm C trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, điểm C thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chảo Văn C; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20/12/1994 tại huyện U, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản H, thị trấn U, huyện U, tỉnh Lai Châu.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do;

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Chảo Văn D và con bà: Liều Thị L.

Vợ: Phàn Thị N và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại điểm C thành phần của phiên tòa trực tuyến)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị B - Luật sư Văn phòng luật sư Hùng Minh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại điểm C thành phần của phiên tòa trực tuyến)

- Người chứng kiến: Ông Phan Chính B1. Tổ 5, phường H1, thành phố C, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác tại điểm C thành phần của phiên tòa trực tuyến:

1. Ông Lê Đức H2– Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai; (Có mặt).

2. Bà Mai Thị Nhật L - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; (Có mặt).

3. Ông Phạm Quang T – Cán bộ Trại Tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2023 qua mạng xã hội facebook, C quen một người phụ nữ tự giới thiệu tên là M, nhà ở xã Na Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Đến khoảng tháng 7/2023, C liên lạc hỏi M có quen ai bán ma túy không để mua, M cho C số điện thoại của một người phụ nữ và nói là mẹ của M. Đến giữa tháng 8/2023, C gọi điện cho mẹ của M và giới thiệu là bạn của M, hỏi có biết ai bán ma túy Heroine không. Mẹ M nói có biết người ở bên nước Lào mang sang bán giá 70 triệu đồng 01 bánh, nếu mua thì mang tiền đến người Lào sẽ mang hàng sang giao ở xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, C đồng ý. Khoảng 10 ngày sau, C gọi điện cho Trường, nhà ở thành phố Lào Cai, hỏi ở bên Lào Cai có biết ai cần mua ma túy Heroine không, giá mua bao nhiêu. Trường trả lời để tìm hỏi xem đã. Khoảng giữa tháng 11 năm 2023, C lại gọi điện hỏi Trường, Trường trả lời có người cần mua 03 cây Heroine với giá 20 triệu đồng/01 cây, C bảo Trường chuyển tiền trước để đi mua ma túy nhưng Trường nói có ma túy mới giao tiền. Ngày 27/11/2023, C gọi điện cho mẹ M nói chỉ có 20 triệu đồng không đủ tiền lấy cả bánh có được không, mẹ M nói số tiền đó vẫn bán nên C bảo sáng hôm sau sẽ lên. Tối cùng ngày, C đi đến số nhà 22, đường Trần Hưng Đạo thuộc tổ 11, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu thuê chiếc xe ô tô bán tải biển kiểm soát 25C-036.02 của anh Hoàng Đức T2. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 28/11/2023, C điều khiển xe ô tô đến xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Đến nơi khoảng 16 giờ cùng ngày, C gọi điện cho mẹ của M ra đón, mẹ M bảo C để xe ô tô ở nhà ven đường tý có người ra đón, đợi khoảng 20 phút có một người đàn ông đến đón C. Sau đó C ngồi sau xe mô tô của người đàn ông đó đi khoảng 01 tiếng đồng hồ đến 01 lán nương. Tại đây C đưa 20 triệu đồng cho người đàn ông đó để đi lấy hàng (ma túy Heroine), người đàn ông cầm tiền và đi đến khoảng hơn 08 giờ ngày 29/11/2023 thì về đến lán. Người đàn ông giao cho C 02 bọc nilon bên trong chứa ma túy (Heroine), C nhận ma túy không kiểm tra mà cho luôn vào túi áo khoác đang mặc trên người rồi trả công cho người đàn ông đó là 01 triệu đồng. Người đàn ông cầm tiền và chở C về chỗ để xe ô tô, rồi đi đâu C không biết. Còn C điều khiển xe ô tô đi về thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, trên đường đi C gọi điện cho Trường nói có 03 cây ma túy Heroine giá 20 triệu đồng 01 cây, tổng số 60 triệu đồng, hẹn sáng hôm sau giao, nhận hàng (Heroine). C đến thành phố Lào Cai C vào một nhà nghỉ thuê phòng nghỉ qua đêm. Khoảng 07 giờ ngày 30/11/2023, C gọi cho Trường hẹn địa điểm giao, nhận ma túy, sau đó C điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường T1 lối vào khu Kim Thành, thành phố Lào Cai để chờ Trường đến. Một lúc sau Trường đến mở cửa xe ô tô lên ngồi ở ghế phụ bảo C cho xem và kiểm tra ma túy, C nói phải có tiền mới cho xem, nên Trường xuống xe nói đi lấy tiền. Trường đi được vài phút thì tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai đến kiểm tra, C đã tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang khoác sau ghế lái 02 bọc nilon màu trắng bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục là chất ma tuý (Heroine) giao nộp cho tổ Công tác.Tổ Công tác đã mời người chứng kiến đến, đưa C cùng phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 25C - 063.02 và tang vật về Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 361 ngày 01/12/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Vật chứng gửi giám định gồm: 112,67 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục là loại chất ma túy Heroine.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-P1 ngày 18/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chảo Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bị cáo Chảo Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày lời luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chảo Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 4 điểm b; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chảo Văn C 20 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Chảo Văn C 20 năm tù là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Đề nghị xử phạt Chảo Văn C mức án dưới 20 năm tù để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội để làm một người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Chảo Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 28/11/2023, Chảo Văn C đã mua 112,67 gam Heroine của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch ở tỉnh Điện Biên với giá 20.000.000 đồng. Sau đó, C đã mang ma túy sang thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai bán cho một người đàn ông tên Trường với giá 60 triệu đồng. Ngày 30/11/2023, khi Chảo Văn C đang đợi người mua đến để giao ma túy thì bị Tổ công tác đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Lào Cai bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Hành vi của bị cáo Chảo Văn C đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Heroin có khối lượng 100g trở lên”. Vì vậy, bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-P1 ngày 18/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chảo Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Bị cáo Chảo Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy dưới mọi hình thức, đồng thời thấy rõ tác hại của ma túy đối với cộng đồng và xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép 112,67 gam Heroin để kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo Chảo Văn C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và bày tỏ thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Chảo Văn C ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời phát huy được tác dụng đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm tội phạm về ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Đối với quan điểm của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án dưới 20 năm tù là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với khối lượng ma túy còn lại sau trích mẫu giám định: là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu đen hiệu OPPO và 01 chiếc điện thoại di động màu đen hiệu REALME thu giữ của bị cáo: Là công cụ bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 áo khoác màu đen: Là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Chảo Văn C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Chảo Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Văn C 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 30/11/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) niêm phong bằng bì thư in sẵn của phòng KTHS – Công an tỉnh Lào Cai dán kín lại. Các mép của niêm phong được dán kín có: chữ ký ghi rõ họ tên của người tham gia niêm phong; 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng KTHS – Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Trên một mặt của phong bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Chảo Văn C ngày 30/11/2023 tại tổ 6, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”. Niêm phong còn nguyên vẹn đúng quy định, bên trong chứa 103,71 gam Heroin còn lại sau trích mẫu giám định; hai mảnh nilon màu trắng và bì niêm phong ban đầu, niêm phong còn nguyên vẹn đúng quy định.

* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO màn hình cảm ứng, Số IMEI 1: 860165045820073, số IMEI 2: 860165045820065, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu REALME màn hình cảm ứng. Số IMEI 1: 863320061133755/13, số IMEI 2: 863320061133748/13, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong;

* Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) căn cước công dân số 012094003945 mang tên Chảo Văn C.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 1200176004119, mang tên Chảo Văn C.

- 01 (một) áo khoác màu đen đã cũ.

(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng số 21 ngày 18/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chảo Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ”.

Cỡ chữ