vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H2 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H2 …….. (………) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ 19/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng Đ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quâ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H2 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày: 05/3/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Ngọc Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Xứng

2. Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lƣ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với cáo:

Trần Trọng Đ, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Số A, ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Thợ lặn; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1967 (chết năm 2023) và bà Phạm Thùy T, sinh năm 1974; Vợ Trần Cẩm N, sinh năm 1997; Con 01 người Trần Minh C, sinh năm 2020; Em ruột 01 người Trần Thị Yến N1, sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang tại ngoại cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra Trần Trọng Đ khai nhận: Vào năm 2017, Đ thực hiện nghĩa vụ quân sự và được phân công về công tác tại Tiểu đoàn C1, Trung đoàn C2, Sư đoàn C3, Quân khu I (đóng quân tại quận T, Thành phố Cần Thơ). Cuối năm 2017, Đ tham gia diễn tập bắn đạn thật loại súng, đạn AK tại Trường bắn C (tỉnh An Giang) và được phân công nhiệm vụ truyền thông tin từ Ban C4 đến Tổ bắn để ra hiệu lệnh cho cán bộ cảnh sát bắn. Sau khi diễn tập xong, Đ nhặt 01 (một) viên đạn AK mang về cất giữ. Đến đầu năm 2019, Đ xuất ngũ về nhà tại ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, Đ có lấy viên đạn để vào ngăn ngoài của balo màu cam cất trong phòng ngủ của Đ. Đến ngày 22/6/2023, Đ lấy balo màu cam xếp quần áo vào đi qua P, tỉnh Kiên Giang để làm nghề thợ lặn. Khi xuống tàu từ H đi ra P được một đoạn, bà Phạm Thùy T (mẹ ruột Đ) điện thoại báo tin cha ruột Đ bị bệnh rất nguy kịch, sẽ đưa từ Thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau, kêu Đ cùng đưa cha về nhà. Sau khi đến P, Đ vào sân bay P để mua vé máy bay lên Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến điểm kiểm tra hành lí khách hàng bị phát hiện trong balo của Đ có 01 viên đạn, nên lập biên bản vi phạm.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) viên đạn, đít đạn có ký hiệu 53980, chưa bắn cỡ (7,62 x39) mm.

* Tại Kết luận giám định số: 4653/KL-KTHS ngày 21/7/2023 Phân viện khoa học hình sự - Bộ C5 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) viên đạn, đít đạn có ký hiệu 53980, gửi giám định là đạn quân dụng (vũ khí quân dụng) chưa bắn cỡ (7,62 x39) mm.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS.P1 ngày 25/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo.

- Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ, mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng của vụ án.

Bị cáo Đ không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo, thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Năm 2017, Trần Trọng Đ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đoàn C1, Trung đoàn C2, Sư đoàn C3, Quân khu I. Khi tham gia diễn tập bắn đạn thật loại súng và đạn AK tại Trường bắn C (tỉnh An Giang), Đ có nhặt được 01 (một) viên đạn AK mang về cất giữ, nhằm mục đích để làm kỷ niệm. Sau khi xuất ngũ, Đ cất giấu viên đạn vào balo màu cam cất trong phòng ngủ. Đến khoảng 15 giờ ngày 22/6/2023, Đ mang theo balo màu cam có 01 viên đạn đến Cảng hàng không Quốc tế P làm thủ tục đi Thành phố Hồ Chí Minh thì bị nhân viên an ninh Cảng hàng không phát hiện trong balo của Đ có 01 viên đạn, lập biên bản thu giữ. Qua giám định 01 viên đạn trên là vũ khí quân dụng.

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan An ninh điều tra cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước. Vũ khí quân dụng là loại vũ khí mang tính sát thương rất cao, chỉ được sử dụng trong công tác đảm bảo an ninh quốc phòng và các lĩnh vực khác theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, cá nhân không được phép sở hữu vũ khí quân dụng. Hành vi tàng trữ là bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 5 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nhân thân tốt, có ông nội tham gia cách mạng được tặng “Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng”, bà nội là “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và 02 người bác ruột là Liệt sĩ; bản thân bị cáo trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự được tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên xử phạt mức án đầu khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức án đối với bị cáo Đ là phù hợp nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu giao Cơ quan chức năng quản lý: 01 (một) viên đạn, đít đạn ký hiệu 53980, chưa bắn cỡ (7,62 x39)mm.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng Đ - 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý, bảo quản 01 (một) viên đạn, đít đạn ký hiệu 53980, chưa bắn cỡ (7,62 x39)mm. Theo đề nghị nhập kho vật chứng số: 990 ngày 15/11/2023 của Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh K và L nhập kho số: 28/NTL ngày 17/11/2023 của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh K.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Trọng Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND Cấp cao tại T (1);

- TAND Cấp cao tại thành phốHCM (1);

- VKSND tỉnh KG (1);

- Sở Tư pháp tỉnh KG (1);

- THA tỉnh KG (1)

- Cơ quan điều tra tỉnh KG (1);

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh K (1);

Trƣơng Ngọc H1

- Trại tạm giam - CA tỉnh K;

- Bị cáo (3);

- Tổ hành chính tư pháp (1);

- Lưu hồ sơ (1);

- Lưu tòa hình sự (5). * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại T (1);

- TANDCC tại Thành phốHCM (1);

- VKSND tỉnh KG (1);

- Sở Tư pháp tỉnh KG (1);

- THA tỉnh KG (1);

- Cơ quan điều tra tỉnh KG (1);

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh K (1);

- Trại tạm giam - CA tỉnh K (3);

- Bị cáo (3);

Trƣơng Ngọc H1

- Lưu (7);

Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo lợi dụng sự quen biết, tin tưởng của người bị hại, vay, mượn tiền của bị hại nhằm mục đích để làm ăn, tuy nhiên khi làm ăn thua lỗ thì bị cáo không trả tiền cho các bị hại mà bỏ trốn khỏi địa phương để chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của các bị hại một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình bị hại và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tự nguyện bồi thường cho bị hại. Do vậy, cần áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự bị hại yêu cầu bị cáo …………………………..

Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt cũng như phần trách nhiệm dân sự là phù hợp, HĐXX chấp nhận.

Về quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất quan điểm về tội danh và trình bày các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp, HĐXX chấp nhận.

Về ý kiến các bị hại: Đề nghị xử theo pháp luật và yêu cầu trả lại tiền chiếm đoạt là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền ……………………………………………... đồng.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền …………… ……………………………………………………………………………………

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H2 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H2 …….. (………) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ 19/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Trần Ngọc H2 trả lại .............................................

.................................................................................................................

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Ngọc H2 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Trần Ngọc H2 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là ………………………..đồng.

Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ