vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đăng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Lê Đăng V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/04/2023. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 16/01/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Đăng V và bị cáo Huỳnh Ngọc A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đăng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày: 16/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc San Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;

2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Loan - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Đăng V (tên gọi khác: không có); sinh năm 1979 tại Tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số C đường P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; là con ông Lê Đăng N, sinh năm 1945 và bà Trần Thị L (đã mất); bị cáo có vợ và 03 (Ba) người con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 271/2017/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Lê Đăng V 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 26/4/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Huỳnh Ngọc Ẩ (tên gọi khác: không có); sinh năm 1970 tại Tỉnh Bến Tre; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: không; là con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1949; Bị cáo có chồng (đã mất) và 02 (hai) con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 903/2007/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2007, Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt Huỳnh Ngọc Ẩ 06 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

Người bị hại:

1. Ông Phạm Đức M, sinh năm 1996; Địa chỉ: Block A Chung cư X, 2 L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Tô Mỹ C, sinh năm 1982; Địa chỉ: C N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số C P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 18/02/2023, Lê Đăng V điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc, biển số 72F1-764.72 đi các tuyến đường trên địa bàn Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tìm xe ô tô không có người trông coi, trộm cắp kính chiếu hậu. Khi đến khu vực đường nội khu khu phố S, phường T, Quận G, phát hiện xe ô tô hiệu Mercedes GLC200, màu trắng, biển số 30H-692.47 của anh Phạm Đức M đỗ sát vỉa hè. V dừng xe ở phía đường đối diện, đi bộ qua, dùng tay bẻ 02 tròng kính chiếu hậu, bỏ vào áo khoác cất giấu. V mang 02 tròng kính chiếu hậu vừa trộm cắp được đến cửa hàng buôn bán phụ tùng xe ô tô tại số B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Huỳnh Ngọc Ẩ bán được với giá 1.100.000 đồng. Ẩn biết tròng kính do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua, sau đó bán lại cho một người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.500.000 đồng.

Đến ngày 13/4/2023, PC02 Công an Thành phố H tuần tra phát hiện Lê Đăng V đang điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc, biển số 72F1-764.72 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở công an phường T, Quận G, làm rõ xử lý. V khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Ngày 15/4/2023, ông Phạm Đức M đến công an Phường T.

Theo kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTTHS ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: 02 tròng kính chiếu hậu của xe ô tô hiệu Mercedes GLC 200, biển số: 30H-69247, đăng ký tháng 05/2022 có giá trị 4.475.000 đồng.

Vụ thứ 2:

Vào lúc 06 giờ ngày 21/3/2023, cùng với thủ đoạn tương tự Lê Đăng V điều khiển xe Wave, biển số: 72F1-764.72 đến trước Block B, đường nội khu khu phố N, khu phố F, phường T, Quận G phát hiện xe ô tô hiệu Volvo, màu xanh, biển số: 59K-337.96 đổ ở lề đường nhưng không có người trong coi. V dùng tay bẻ trộm tròng kính chiếu hậu bên phải xe ô tô, bỏ vào áo khoác cất giấu. Lúc này, bảo vệ chung cư phát hiện nên V bỏ chạy. V mang theo tròng kính chiếu hậu vừa trộm cắp được đến cửa hàng buôn bán phụ tùng xe ô tô tại số B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho Huỳnh Ngọc Ẩ với giá 700.000 đồng. Ẩn biết tròng kính do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua, sau đó bán lại cho một người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.200.000 đồng. Qua xác minh, xe ô tô hiệu Volvo biển số 59K-337.96 do bà Tô Mỹ C đứng tên chủ xe.

Theo kết luận định giá tài sản số 336/KL-HĐĐGTTHS ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: 01 tròng kính chiếu hậu của xe ô tô hiệu Volvo XC90 T8 biển số: 59K-337.96, sản xuất năm 2022 có giá trị 8.482.320 đồng.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra, V còn khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 12/2022, Lê Đăng V điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc, biển số 72F1-764.72 đến địa chỉ A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện xe ô tô hiệu Mazda, màu đỏ, không rõ biển số đậu bên lề đường, không có người trong coi. V dừng xe lại, bẻ trộm tròng kính nhưng do bẻ không đúng cách nên kính chiếu hậu bị bể. V vứt bỏ kính lại rồi bỏ đi.

Qua xác minh tại Công an phường P xác minh từ tháng 12/2022 đến nay không có ai trình báo vụ việc mất trộm như V đã khai.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đăng V, Huỳnh Ngọc Ẩ khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại hiệu OPPO A95, màu đen, số IMEI 1 : 86992905553712, số IMEI 2 : 86992955537138, đã qua sử dụng của Lê Đăng V.

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu đen bạc, biển số 72F1-764.72, số khung 39XLY185081, số máy : JA39E1522929, đã qua sử dụng. Qua xác minh xe trên do ông Huỳnh Văn T1 đứng tên chủ sở hữu. Cuối năm 2022 ông T1 đã bán xe cho một người tên M (không rõ lai lịch), ông T1 không có yêu cầu đối với chiếc xe. Chị Lê Thị H là vợ của V khai đã mua chiếc xe này từ người đàn ông quen biết qua mạng với giá 15.800.000 đồng với mục đích để cho con gái đi học, khi mua có lập giấy tay mua bán và kèm theo giấy tờ xe. Chị H chưa sang tên chiếc xe, do thời gian đã lâu nên làm mất giấy tờ xe, việc V sử dụng xe để đi trộm cắp thì chị H không biết.

- 01 áo khoác dài tay màu trắng xanh, có chữ adidas.

- 01 quần jean màu xanh, đã qua sử dụng.

Về dân sự: Những người bị hại là ông Phạm Đức M, bà Tô Mỹ C không yêu cầu.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo Lê Đăng V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; áp dụng tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, thuộc điểm g khoản 1 Điều 52; tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường khắc phục thiệt hại thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Lê Đăng V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; áp dụng tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, thuộc điểm g khoản 1 Điều 52; tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường khắc phục thiệt hại thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:

Lê Đăng V đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần: Lần 01, V trộm 02 tròng kính chiếu hậu của xe ô tô hiệu Mercedes GLC 200, trị giá 4.475.000 đồng, bán lại cho Huỳnh Ngọc Ẩ với giá 1.100.000 đồng; Lần 2, V trộm 01 tròng kính chiếu hậu xe ô tô Volvo, trị giá 8.482.320 đồng, sau đó bán cho Huỳnh Ngọc Ẩ với giá 700.000 đồng. Tài sản Lê Đăng V chiếm đoạt có tổng giá trị 12.957.320 đồng, thu lợi bất chính 1.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ thừa nhận là đã biết được các tròng kính chiếu hậu xe ô tô mà Lê Đăng V mang đến bán là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua, và tiêu thụ. Cụ thể: Lần 01, Ẩ mua 02 tròng kính chiếu hậu của xe ô tô hiệu Mercedes GLC 200 với giá 1.100.000 đồng, sau đó bán lại cho một người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.500.000 đồng; Lần 2, Ẩ mua 01 tròng kính chiếu hậu xe ô tô hiệu Volvo với giá 700.000 đồng, sau đó bán lại cho một người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.200.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 900.000 đồng. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có hành vi phạm tội 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đăng V, Huỳnh Ngọc Ẩ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện nộp lại một phần tiền để sửa chữa, bồi thường khắc phục thiệt hại, các bị cáo thuộc gia đình có công cách mạng (bị cáo V có cha là cựu chiến binh, nhận huân chương Chiến Công hạng Nhất, huân chương Chiến Sĩ Vẻ Vang hạng Nhất; bị cáo Ẩ có cha là thương binh hạng ¾), bị cáo Ẩ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính nuôi 02 con mất khả năng lao động, và phụng dưỡng cha mẹ già (theo xác nhận của Tổ dân phố 42, và UBND phường N, Quận A) nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích; trong lần phạm tội này, bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần, nhưng mức độ của tội phạm mới đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, và bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Mặt khác, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chồng chết, bị cáo đang là lao động chính nuôi 02 con mất khả năng lao động, và phụng dưỡng cha mẹ già. Nhận thấy, nếu bắt bị cáo chấp hành án phạt tù, cách ly bị cáo khỏi gia đình sẽ khiến cho cuộc sống của những người đang phụ thuộc vào bị cáo càng thêm khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P.

Về vật chứng:

- 01 điện thoại hiệu OPPO A95, màu đen, số IMEI 1: 86992905553712, số IMEI 2: 86992955537138, đã qua sử dụng của Lê Đăng V: không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo V.

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu đen bạc, biển số 72F1-764.72, số khung 39XLY185081, số máy: JA39E1522929, đã qua sử dụng. Qua xác minh xe trên do ông Huỳnh Văn T1 đứng tên chủ sở hữu. Cuối năm 2022 ông T1 đã bán xe cho một người tên M (không rõ lai lịch), ông T1 không có yêu cầu đối với chiếc xe. Chị Lê Thị H là vợ của V khai đã mua chiếc xe này từ người đàn ông quen biết qua mạng với giá 15.800.000 đồng với mục đích để cho con gái đi học, khi mua có lập giấy tay mua bán và kèm theo giấy tờ xe. Chị H chưa sang tên chiếc xe, do thời gian đã lâu nên làm mất giấy tờ xe, việc V sử dụng xe để đi trộm cắp thì chị H không biết. Nên tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, không tìm được chủ sở hữu thì giao lại cho chị Lê Thị H quản lý, sử dụng.

- 01 áo khoác dài tay màu trắng xanh, có chữ adidas, 01 quần jean màu xanh, đã qua sử dụng: là trang phục bị cáo V mặc khi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu huỷ.

Buộc các bị cáo Lê Đăng V phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là 1.800.000 đồng, bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là 900.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Do những người bị hại là ông Dương Đức M1, bà Tô Mỹ C có trình bày là không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trả lại cho các bị cáo Lê Đăng V, Huỳnh Ngọc Ẩn s tiền tạm nộp để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là 2.700.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác của các bị cáo.

Đối với vụ trộm kính xe Mazda xảy ra vào đầu tháng 12/2022 tại địa chỉ A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh tại Công an phường P từ tháng 12/2022 đến nay không có ai trình báo vụ việc mất trộm như V đã khai. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đăng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Đăng V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/04/2023.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 16/01/2024.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

- Trả lại cho bị cáo Lê Đăng V: 01 điện thoại hiệu OPPO A95, màu đen, số IMEI 1: 86992905553712, số IMEI 2: 86992955537138, đã qua sử dụng.

- Đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu, không tìm được chủ sở hữu thì giao lại cho chị Lê Thị H quản lý, sử dụng đối với: 01 xe gắn máy hiệu Wave màu đen bạc, biển số 72F1-764.72, số khung 39XLY185081, số máy: JA39E1522929, đã qua sử dụng.

- tịch thu để tiêu huỷ đối với: 01 áo khoác dài tay màu trắng xanh, có chữ adidas, 01 quần jean màu xanh, đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 123 ngày 28/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Tịch thu để sung quỹ nhà nước đối với: số tiền đã nộp là 1.800.000 (một triệu tám trăm ngàn) đồng của bị cáo Lê Đăng V, và số tiền đã nộp là 900.000 (chín trăm ngàn) đồng của bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ.

(Theo Lệnh thanh toán số tham chiếu 2320410303884047 ngày 26/9/2023 của Ngân hàng N2 – chi nhánh N3)

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Huỳnh Ngọc Ẩ)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ