- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thiên Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thiên Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 30-01-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2024/TB-TA ngày 19/01/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thiên Q, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: thôn L, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Thiên Đ và bà Đặng Thị H (đã chết); gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt..
- Bị hại: Anh Nguyễn Nghi T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Vƣơng Trung N, sinh năm 1999; Địa chỉ: Khu L, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1977; Khu L, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Bà L, chị H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Thành C, sinh năm 1989; Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1984; Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1971; Anh Đặng Văn L, sinh năm 1975; Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1998; Ông Bùi Đình T3, sinh năm 1958; Ông Vũ Cao X, sinh năm 1960; Ông Bùi Tiến H1, sinh năm 1966; Bà Đặng Thị N, sinh năm 1962; Anh Nguyễn Thiên C, sinh năm 1987; Anh Đặng Ngọc S, sinh năm 1974; Anh Trần Văn C1, sinh năm 1979;
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 01/6/2023 Nguyễn Thiên Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe wave, màu sơn đen, không lắp yếm và biển số xe của mình từ nhà Q đến sân nhà văn hóa thôn L, xã C để chơi bóng chuyền hơi. Cũng vào tối cùng ngày, anh Vương Trung N điều khiển xe mô tô đến nhà anh Nguyễn Nghi T để chở anh T cùng ra nhà văn hóa thôn L xem đánh bóng chuyền
Tại khu vực sân nhà văn hóa sau khi chơi bóng được khoảng 01 tiếng thì Q nghỉ giải lao đi sang sân bóng bên cạnh gần cổng nhà văn hóa để xem (sân anh T và anh N đứng xem). Sau đó mọi người nghỉ giải lao thì Q tiến lại xin thuốc lá để hút. Khi đó anh T cũng đến xin thuốc lá, thấy vậy Q nói với anh T “Mày phải nói là các ông cho con xin điều thuốc”. Anh T trả lời: “Em không xin các ông, ở đây chỉ có các anh, anh thích gì”, thì Q nói: “Mày thích như thế nào anh chiều”. Thấy anh T và Q to tiếng với nhau, anh N đi đến gần chỗ Q nói: “Thằng kia mày thích ý kiến à”?, thì Q nói: “Mày thích như thế nào tao cũng chiều mày hết”. Nghe vậy anh T nói với anh N: “Không có chuyện gì đâu”, rồi cả ba người không ai nói gì nữa. Anh T và anh N tiếp tục xem bóng chuyền, còn Q điều khiển xe mô tô về nhà vào bếp lấy 01 con dao bằng kim loại (loại dao dựa), màu đen, dài khoảng 45cm, tay cầm dài khoảng 15cm, phần lưỡi dao dài khoảng 30cm, một mặt lưỡi sắc, bản dao rộng khoảng 5cm, đầu mũi dao bằng, rồi điều khiển xe quay lại sân bóng. Q điều khiển xe máy đến đỗ sau lưng anh T, xuống xe cầm dao trên tay phải chạy đến chém anh T theo hướng từ trên xuống dưới. Anh T thấy vậy quay mặt lại đưa tay lên đỡ, nhưng vẫn bị dao chém trúng vào vùng đầu bên trái gây thương tích. Anh T lùi về phía sau thì Q tiếp tục vung dao lên chém nhưng không trúng, anh T bỏ chạy sang sân bóng bên cạnh, Q cầm dao đuổi theo để chém. Quá trình đuổi chém anh T, Q vừa hò hét vừa chửi bới gây hỗn loạn khu vực sân bóng, khiến mọi người hoảng sợ phải dừng chơi bóng. Khi Q đuổi anh T chạy vòng quay lại sân bóng gần cổng thì được một số người can ngăn, anh T chạy ra ngoài cổng nhà văn hóa về khu vực cổng làng thôn Làng Vực rồi đi nhờ xe máy của người dân về nhà .
Sau khi được mọi người can ngăn, Q thấy anh N đang đứng ở sân gần cổng nhà văn hóa thì cầm dao đuổi anh N. Anh N bỏ chạy ra đường, hướng về thôn Quảng Xuyên được khoảng 50m thì rẽ phải vào đường khu dân cư mới, còn Q cầm dao đuổi theo phía sau vừa chạy vừa chửi bới hò hét. Anh N rẽ vào vườn trồng chuối ven đường của gia đình bà Nguyễn Thị Hoàn thì bị vấp ngã nên Q đuổi kịp. Q cầm dao chém hai nhát, một nhát trúng vào vùng gáy và một nhát trúng vào vùng đầu bên trái của anh N. Anh N nói với Q: “Em sai, cho em xin”, thì Q không chém anh N nữa và đưa áo cho anh N cầm máu vết thương. Sau đó anh N quay lại sân nhà văn hóa thôn Làng Vực thì được người dân chở về nhà anh T. Anh T và anh N được người nhà chở đến Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ cấp cứu và điều trị đến ngày 04/6/2023 thì ra viện. Đối với Nguyễn Thiên Q sau khi anh N chạy về sân nhà văn hóa, Q cũng đi bộ lấy xe mô tô điều khiển xe về nhà. Trên đường về Q đã vất con dao xuống ao của một nhà dân, do trời tối nên không xác định được vị trí ao nhà ai. Sau đó Q điều khiển xe mô tô theo Quốc lộ 1A để vào miền Nam. Trên đường đi Q bán chiếc xe trên cho một cửa hàng thu mua sắt vụn được 500.000đồng (Q không xác định được địa chỉ cụ thể và tên cửa hàng), sau đó bắt xe vào tỉnh Gia Lai làm thuê kiếm sống. Đến ngày 23/9/2023 Q bắt xe về nhà. Ngày 03/10/2023 anh Nguyễn Nghi T và anh Vương Trung N có đơn trình báo sự việc đề nghị xử lý Nguyễn Thiên Q theo quy định pháp luật.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 344/KLTTCT ngày 20/10/2023 của Trung tâm pháp y Hải Dương – Sở y tế Hải Dương, kết luận giám định anh Nguyễn Nghi T tổn thương:
“Sẹo vết thương phần mềm vùng đầu, ở đỉnh trái kích thước nhỏ. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/08/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Nghi T tại thời điểm giám định là 01%. Tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, anh T bị người khác dùng dao như Công an huyện Tứ Kỳ mô tả chém gây ra là phù hợp”.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 345/KLTTCT ngày 20/10/2023 của Trung tâm pháp y Hải Dương – Sở y tế Hải Dương, kết luận giám định anh Vương Trung N tổn thương:
“Sẹo vết thương phần mềm vùng đầu ở đỉnh chẩm trái kích thước nhỏ. Chấn thương phần mềm gây trầy xước da vùng gáy. Hiện để lại vết thẫm màu vùng đầu ở gáy bên trái. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/08/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Vương Trung N tại thời điểm giám định là 01%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, anh N bị người khác dùng dao như Công an huyện Tứ Kỳ mô tả chém gây ra là phù hợp”.
Tại cáo trạng số 04/CT-VSKTK ngày 27/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố Nguyễn Thiên Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của BLHS;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiên Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng a, i khoản 1 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 BLHS.
- Xử phạt Nguyễn Thiên Q từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thiên Q phải chấp hành hình phạt của cả hai tội từ 33 đến 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2023. Về phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật số 97/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại anh Nguyễn Nghi T và anh Vương Trung N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự và tiền công chăm sóc. Về trách nhiệm hình sự: Các bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, sơ đồ hiện trường, biên bản vụ việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn bột phát trong việc giao tiếp xã hội, khoảng 22 giờ ngày 01/06/2023 tại khu vực sân nhà văn hóa thôn L, xã C, huyện Tứ Kỳ. Nguyễn Thiên Q đã dùng dao chém vào đầu anh Nguyễn Nghi T, khi anh T bỏ chạy thì Q tiếp tục cầm dao đuổi theo, hò hét, chửi bới gây hỗn loạn sân bóng. Sau đó Q tiếp tục cầm dao chạy trên đường đuổi theo anh Vương Trung N đến khu vực vườn chuối của gia đình bà Nguyễn Thị H ở thôn L, xã C; Q dùng dao chém 02 nhát vào vùng đầu và vai anh N. Hậu quả anh T và anh N đều bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người là 01%. Anh T, anh N có đơn yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thiên Q.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao đuổi chém anh T và anh N là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù thương tích bị cáo gây ra cho mỗi người chỉ 1%, nhưng do bị cáo dùng dao là “hung khí nguy hiểm” và chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã về nhà cầm dao đến chém gây thương tích cho hai người thuộc trường hợp phạm tội “có tính chất côn đồ”. Những người bị hại có đơn yêu cầu xử lý về hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS. Quá trình đuổi chém anh T và anh N, bị cáo còn hò hét, chửi bới làm láo loạn sân vận động là nơi công cộng, sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng dao thuộc trường hợp “Dùng vũ khí nguy hiểm” nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo điểm b khoản 2 Điều 318 của BLHS. Như quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ về các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nhiều khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là xâm hại đến sức khỏe của người khác và xâm hại sự an toàn trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn nên cần thiết phải xử lý bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khoản 1 Điều 52 BLHS đối với cả hai tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội. Do bị cáo phạm hai tội nên cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo đúng quy định tại Điều 55 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Nghi T và anh Vương Trung N bị thương tích và phải đi điều trị, trong thời gian điều trị chị Huyền phải nghỉ chăm sóc anh T, bà Lý phải nghỉ chăm sóc anh N. Tuy nhiên anh T và bà Lý, anh N và chị Huyền không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và tiền công chăm sóc. Xét thấy việc các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường là tự nguyện nên cần được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với con dao Nguyễn Thiên Q dùng để gây thương tích cho anh T và anh N, sau khi gây án, bị cáo đã vứt xuống ao nhà dân. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã tiến hành rà soát, tìm kiếm, nhưng không thu giữ được nên không đặt ra giải quyết.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đen, không lắp yếm và biển số xe, Q đã bán được 500.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người mua nên không thu giữ được, ngày 29/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định truy tìm vật chứng số 14/QĐ-TT đối với chiếc xe trên nên không đặt ra giải quyết. Do chiếc xe trên không phải là phương tiện trực tiếp liên quan đến tội phạm nên không đặt ra việc truy thu số tiền trên đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 BLHS.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thiên Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên Q 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thiên Q phải chấp hành chung của hai tội 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2023.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về … án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thiên Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan Thi hành án HS - Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo, bị hại; người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |