- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Thức cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T, phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và phù hợp; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày: 31 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng
2. Ông Nguyễn Bá Long
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh năm 1988; Tại: xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Thợ làm đá; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Ngô Thị T và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Vũ Văn H - Sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ P, xã Đ, huyện K, TP. Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do trước đó có mâu thuẫn với ông Nguyễn Tất K, ở thôn Đ, xã Đ, huyện T (là anh rể T) nên khoảng 12 giờ ngày 31/8/2023, sau khi đã uống rượu, Đỗ Văn T đi bộ đến nhà ông K. Trên đường đi, T nhặt 02 viên gạch vỡ (dạng gạch nung) ở ven đường cầm trên tay. Khi vào trong sân nhà ông K, T quan sát thấy ông K, bà N (vợ ông K) và một số người hàng xóm đang ngồi nói chuyện trước thềm nhà và nhìn thấy 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu trắng, biển kiểm soát 15A-606.05 của anh Vũ Văn H (con rể ông K) đậu trước nhà. T đi đến đứng trước đầu xe ô tô, khoảng cách khoảng 01m và dùng tay phải ném lần lượt 02 viên gạch vào kính chắn gió của xe ô tô đang đỗ trong sân. Hậu quả, phần kính chắn gió của xe ô tô bị nứt, vỡ hư hỏng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, anh H đến Công an xã Đồng Thắng trình báo lại nội dung sự việc trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 16/10/2023 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Triệu Sơn kết luận: Kính chắn gió phía trước xe ô tô bị hỏng có giá trị 7.800.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSTS ngày 21/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Đỗ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 178; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt bổ sung 15 đến 20 triệu đồng. Miễn xét về phần bồi thường dân sự, tịch thu tiêu hủy ¼ viên gạch và 02 mẫu gạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn với ông Nguyễn Tất K từ trước nên khoảng 12 giờ ngày 31/8/2023, T đi đến nhà ông K, dùng 02 viên gạch nung vỡ, ném vào kính chắn gió của xe ô tô Mazda biển kiểm soát 15A-606.05 của anh Vũ Văn H (con rể ông K), làm kính chắn gió bị hư hỏng, giá trị tài sản thiệt hại là 7.800.000đ. Như vậy hành của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Quyền sở hữu tài sản luôn được pháp luật bảo vệ nhưng T đã dùng 02 nữa viên gạch ném vào kính chắn gió của xe ô tô của anh H đang đỗ làm hư vỡ hỏng kính chắn gió xe ô tô của anh H. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị cáo là nguy hiểm, táo tợn, gây hoang mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc để giáo dục T và nhằm cảnh tỉnh răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản thiệt hại bị cáo đã sửa chữa khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Nên cần áp dụng điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao nên cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương theo dỏi giám sát cũng đủ điều kiện bị cáo sau này trở thành người công dân tốt.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện làm thợ đá, có thu nhập nên cần phạt bổ sung bị cáo 15.000.000đồng.
[6]. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền số tiền thay kính chắn gió là 5.000.000đ cho anh H. Anh H không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại. Nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với 1/4 viên gạch nung; 02 mẫu gạch nung kích thước khác nhau. Xét thấy đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 178; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T, phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T: 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Văn T: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Đỗ Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cục gạch (1/4 viên gạch nung) kích thước 7x10x5cm; 02 mẫu gạch nung kích thước hình dạng khác nhau. (Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản giao nhận ngày 22/01/2024).
- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, đối với T kể từ ngày tuyên án, đối với anh H kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Triệu Sơn; - Công an huyện Triệu Sơn; - Thi hành án HS; dân sự; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tuấn |