- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huy - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: C (bảy) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 02- 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Hương và ông Lê Xuân Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Tiến Phúc, Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ
Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 02/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/HSST-QĐ ngày 19/12/2023, số 02/2024/HSST-QĐ ngày 18/01/2024 đối với bị cáo:
Cấn Đình H, sinh năm 1992 tại xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Thôn A, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cấn Văn T (c) và bà Trần Thị H1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2023 đến ngày 25/9/2023 tại ngoại. “có mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; cán bộ Cảnh sát giao thông Đội 9, Phòng C2, Công an thành phố H. “vắng mặt”
2. Anh Trần Khánh D, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. “có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện kế hoạch số 43/KH-ĐB9 ngày 14/9/2023 của Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 9, Phòng C2 Công an thành phố H, khoảng 12 giờ 40 phút ngày 16/9/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 9 gồm đồng chí Nguyễn Văn H2 (tổ trưởng), Nguyễn Tiến C (tổ viên) và Nguyễn Mạnh N (tổ viên) đều mang, mặc trang phục Ngành Công an quy định, tiến hành lập chốt kiểm soát giao thông tại km 29+300 Quốc lộ C thuộc địa phận xã T, huyện P, thành phố Hà Nội. Đồng chí H2 làm nhiệm vụ phụ trách chung, lập biên bản và hỗ trợ; đồng chí C và đồng chí N làm nhiệm vụ dừng xe và kiểm tra nồng độ cồn, giấy tờ xe, giấy phép lái xe của người điều khiển phương tiện khi có vi phạm nồng độ cồn.
Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, Cấn Đình H điều khiển xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu Kia Cerato, màu trắng, biển kiểm soát 30F-873.97, trên xe có Hoàng Văn C1, Cấn V và Nguyễn Văn Y, đi trên Quốc lộ C theo hướng huyện Đ - thị xã S, khi còn cách tổ công tác khoảng 50 mét, H thấy đồng chí C1 từ lề đường đi ra lòng đường phía trước đầu xe ô tô của H và ra hiệu lệnh, yêu cầu H dừng xe ô tô lại. Do đã uống rượu, bia trước đó, sợ nếu dừng lại bị kiểm tra nồng độ cồn thì sẽ bị phạt nhiều tiền, H quan sát thấy bên trái đường theo chiều đi, có lối rẽ đi vào cánh đồng xã T, nên H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà điều khiển xe đi sang làn đường ngược chiều bên trái để chạy thoát khỏi Cảnh sát giao thông. Thấy vậy, đồng chí C1 cũng đi sang làn đường ngược chiều và tiếp tục đứng trước đầu xe ô tô của H để yêu cầu H dừng xe lại. Khi xe của H đến gần đồng chí C1 thì H giảm tốc độ cho xe đi chậm, nhưng không dừng lại, nên đồng chí Công buộc phải lùi lại để không bị xe ô tô đâm. Thấy vậy, đồng chí H2 liền đi sang, áp sát cửa trước bên phải xe ô tô của H để cùng với đồng chí C1 yêu cầu H dừng xe lại, nhưng H vẫn tiếp tục cho xe tiến chậm về phía trước, lách tránh để bỏ chạy, đến giữa lối rẽ vào đường qua cánh đồng xã T thì H điều khiển xe đi nhanh hơn, khiến đồng chí C1 phải tránh sang bên trái của xe. Lúc này, đồng chí H2 từ bên cạnh cửa trước bên phải chạy lên phía trước đầu xe H để chặn xe, nhưng H vẫn cho xe tiếp tục đi thẳng nên đồng chí H2 đã phải nằm lên capo của xe để không bị xe đâm. H điều khiển xe đi thêm khoảng 130 mét nữa thì bị xe của Cảnh sát giao thông đuổi theo, vượt lên và chặn lại. Quá trình H điều khiển xe khi đồng chí H2 đang nằm trên nắp capo đến khi dừng lại thì tốc độ khoảng 10km/giờ và H có điều khiển xe cản trở không cho xe đặc chủng của Cảnh sát giao thông vượt lên. Sau khi xe H dừng, tổ công tác yêu cầu H xuống xe kiểm tra nồng độ cồn và xuất trình giấy tờ liên quan điều khiển xe nhưng H không chấp hành. Tổ công tác đã bảo vệ hiện trường, không cho những người trên xe rời khỏi xe và báo Công an huyện P cùng Công an xã T phối hợp giải quyết. Kiểm tra nồng độ cồn đối với H, kết quả: Có nồng độ cồn 0,225 miligam/1 lít khí thở.
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, màu trắng, BKS 30F-873.97.
Hậu quả: Không có thương vong về người hay thiệt hại gì về tài sản.
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 27/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo Cấn Đình Huy về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Cấn Đình H 07-10 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ; ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cấn Đình H khai:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 16/9/2023, H điều khiển xe ô tô 05 chỗ nhãn hiệu Kia Cerato, màu trắng, biển kiểm soát 30F-873.97, trên xe có Hoàng Văn C1, Cấn V và Nguyễn Văn Y, đi trên Quốc lộ C theo hướng huyện Đ - thị xã S, đến km 29+300 Quốc lộ C thuộc địa phận xã T, huyện P khi còn cách tổ công tác Cảnh sát giao thông khoảng 50 mét, H thấy 01 đồng chí Cảnh sát giao thông từ lề đường đi ra lòng đường phía trước đầu xe ô tô của H và ra hiệu lệnh, yêu cầu H dừng xe ô tô lại. Do đã uống rượu, bia trước đó, sợ nếu dừng lại bị kiểm tra nồng độ cồn thì sẽ bị phạt nhiều tiền, nên H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà điều khiển xe đi sang làn đường ngược chiều bên trái để chạy thoát khỏi Cảnh sát giao thông. 01 đồng chí Cảnh sát giao thông cũng đi sang làn đường ngược chiều và tiếp tục đứng trước đầu xe ô tô của H để yêu cầu H dừng xe lại. Khi xe của H đến gần đồng chí Cảnh sát giao thông thì H giảm tốc độ cho xe đi chậm, nhưng không dừng lại, nên đồng chí Cảnh sát giao thông phải lùi lại để không bị xe ô tô đâm. 01 đồng chí Cảnh sát giao thông khác liền đi sang, áp sát cửa trước bên phải xe ô tô của H để cùng với đồng chí Cảnh sát giao thông ban đầu yêu cầu H dừng xe lại, nhưng H tiếp tục cho xe tiến chậm về phía trước, đến giữa lối rẽ vào đường qua cánh đồng xã T thì H điều khiển xe đi nhanh hơn, khiến 01 đồng chí Cảnh sát giao thông phải tránh sang bên trái của xe. Lúc này, đồng chí Cảnh sát giao thông còn lại đang từ bên cạnh cửa trước bên phải chạy lên phía trước đầu xe H để chặn xe, nhưng H vẫn cho xe tiếp tục đi thẳng nên đồng chí Cảnh sát giao thông này phải nằm lên capo của xe để không bị xe đâm. H điều khiển xe đi thêm khoảng 130 mét nữa thì bị xe của Cảnh sát giao thông đuổi theo, vượt lên và chặn lại. H bị kiểm tra nồng độ cồn, kết quả: Có nồng độ cồn 0,225 miligam/1 lít khí thở.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 16/9/2023, Cấn Đình H điều khiển xe ô tô BKS 30F-873.97 trong tình trạng có nồng độ cồn 0,225 miligam/1 lít khí thở. Khi đi đến đoạn đường km 29+300 Quốc lộ C thuộc địa phận xã T, huyện P, thành phố Hà Nội đã không chấp hành hiệu lệnh dừng phương tiện của những người đang thi hành công vụ trong tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 9, phòng C2 - Công an thành phố H. Khi các đồng chí trong tổ công tác (H, C1) áp sát xe và đứng chặn trước đầu xe, nhiều lần yêu cầu H dừng xe nhưng H không chấp hành và tiếp tục cho xe tiến về phía trước với mục đích bỏ chạy, khiến đồng chí H2 phải nằm lên nắp capo của xe để không bị xe của H đâm vào người. H tiếp tục lái xe bỏ chạy được khoảng 130 mét và chỉ dừng lại khi bị xe Cảnh sát giao thông đuổi theo vượt qua và chặn lại.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn, hành vi đó của Cấn Đình H đã cấu thành tội Chống người thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố của bị cáo là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Nguyễn Văn H2 không bị thiệt hại gì về sức khỏe và tài sản, anh Trần Khánh D (chủ xe ô tô cho N1 mượn xe) đều không yêu cầu gì về dân sự đối với Cấn Đình H nên Tòa án không xem xét.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS 30F-873.97, màu sơn: Trắng, số khung: 42A6KC163422, số máy: N4NAKH155168 mà Cấn Đình H điều khiển trong quá trình xảy ra vụ án, kết quả điều tra xác định, chiếc xe thuộc sở hữu của anh Trần Khánh D (là anh họ của H). Anh D không biết H mượn xe ô tô của mình và sử dụng liên quan đến vụ án. Vì vậy, trả lại cho anh D chiếc xe ô tô này.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
. Đối với hành vi H điều khiển xe ô tô khi có cồn với nồng độ 0.225mg/1 lít khí thở, Công an huyện P đã xử phạt vi phạm hành chính.
. Đối với các anh Hoàng Văn C1, Cấn Vinh Q và Nguyễn Văn Y là những người ngồi trên xe do H điều khiển, nhưng đều không có hành vi xúi giục, lôi kéo, kích động hay cổ vũ Huy thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét, xử lý gì. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: C (bảy) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 16/9/2023 đến ngày 25/9/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả lại cho anh Trần Khánh D 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS 30F-873.97, màu sơn: Trắng, số khung: 42A6KC163422, số máy: G4NAKH155168. (Theo biên bản giao nhận ngày 11/12/2023)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo Cấn Đình H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - Công an huyện Phúc Thọ; - Sở tư pháp TP. Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; người có QL,NV liên quan; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Hiếu |