- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày: 19/3/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cƣờng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trƣơng Thanh Long.
2. Ông Đoàn Kim Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Đại D Vện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Phƣớc - Kiểm sát Vên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn D (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác), sinh ngày 20/7/2002 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: số 374/11, ấp S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre ;Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới T: Nam; Quốc tịch: Vệt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Đinh Văn Cvà bà Phạm Thị Ngọc C; Anh chị em ruột có 02 người, lớn sinh năm 1999, bị cáo là con nhỏ; Bị cáo chưa có gia đình.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Tấn T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Thôn Điền An, xã Nghĩa Điền, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi ở hiện nay: ấp Cái Tắc, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Có mặt
- Người làm chứng:
+ Huỳnh Thị Trúc L, sinh ngày 19/12/2004.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
+ Phan Thị Cẩm V, sinh năm 2004.
Địa chỉ: ấp 5A, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt
+ Nguyễn Thành N, sinh năm 2003.
Địa chỉ: ấp Phụng Đức B, xã Phú Phụng, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
+ Trần Đình V, sinh năm 1997.
Thôn Điền An, xã Nghĩa Điền, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 13/4/2023, sau khi đi uống rượu về Đinh Văn D đến nhà trọ A, địa chỉ: ấp H, xã Ha, huyện C, tỉnh Bến Tre thăm bạn gái Phan Thị Cẩm V đang thuê trọ thì gặp V và Nguyễn Thành Nlà bạn của V. Khoảng 15 phút sau, Huỳnh Thị Trúc L (hiện sống chung phòng trọ với V) đi cùng trên xe ô tô 04 chỗ ngồi biển số 71A-099.00 với Trần Mạnh T (sinh năm 1997, nơi thường trú: thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, nơi ở hiện tại: ấp G, xã H A, huyện M, tỉnh Bến Tre), Nguyễn Tấn T, Trần Đình V đến trước nhà trọ An. L điện thoại rủ V đi nhậu, do V bật loa ngoài nên D nghe và nói “Muốn nhậu thì vào phòng nhậu”. Lúc này có giọng người nam nói “Mầy đi ra đây nói nghe”, nghe vậy D đi đến xe mô tô biển số 71C4-481.83 của D lấy con dao bấm bỏ vào túi quần và đi ra phía trước nhà trọ. Nlấy con dao Thái Lan cán nhựa màu đỏ cầm trên tay phải và lấy con dao Thái Lan cán nhựa màu đen (lưỡi dao bản rộng hơn con dao cán nhựa màu đỏ) cầm trên tay trái đi phía sau D. D đi đến xe ô tô màu trắng đang đậu, lúc này T mở của xe ô tô bước xuống xông vào đánh D làm D té ngã về sau. Nthấy D bị T đánh nên cầm hai con dao xông vào đánh T để giải vây cho D. Lúc này T và V bước xuống xe xông đến cùng T đánh Nvà D. T và V đánh nhau với N ở khu vực hành lang phía trước phòng trọ của V, D và T đánh nhau ở ngay cửa phòng trọ của V. D lấy con dao trong túi quần ra bấm nút cho lưỡi dao bật ra rồi dùng tay phải cầm dao bấm đâm vào người của T gây thương tích 01 cái. T và V xông vào đánh Nhớ, Nté ngã, sau đó đứng dậy đối diện T và V, cả hai tiếp tục xông vào đánh N, Ndùng hai tay cầm 02 con dao đâm ngang và nhanh qua lại nhiều lần vào cơ thể của T và V làm T bị thương tích ở ngực phải và tử vong sau đó.
Theo giấy chứng nhận thương tích số 617/CN-BVCR ngày 08/6/2023 của Bệnh Vện Chợ Rẫy thì tình trạng thương tích lúc vào Vện của Nguyễn Tấn T là:
- Bệnh nhân tỉnh, không khó thở.
- Vết thương vùng xương đòn trái khoảng 10cm (đã khâu).
- Dẫn lưu màng phổi trái hoạt động tốt (ra dịch hồng).
- X-Quang ngực: Tổn thương phế nang 1/3 giữa – dưới phổi trái. Tràn dịch màng phổi trái ít/ Dẫn lưu màng phổi trái.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 226-23/KLTTCT-TTPYBT ngày 03/7/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bến Tre kết luận thương tích của Nguyễn Tấn T như sau:
Các kết quả chính:
- Sẹo thượng đòn vai trái, kích thước lớn.
- Sẹo dẫn lưu liên sườn 5 trái, kích thước trung bình.
- Tràn khí – tràn máu màng phổi trái đã dẫn lưu hiện tại tràn dịch màng phổi trái lượng ít (cặn màng phổi).
Kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn T tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 5193/KLTTCT-C09B ngày 11/8/2023 của Phân Vện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Nguyễn Tấn T như sau:
Các kết quả chính:
- Vùng đòn trái có 01 sẹo, bờ mép gọn, kích thước lớn.
- Tràn máu tràn khí màng phổi.
Kết luận:
- Thương tích vùng đòn trái của Nguyễn Tấn T có đặc điểm phù hợp do vật sắc nhọn gây ra.
- 03 con dao (mẫu vật gửi giám định) đều gây ra được thương tích vùng đòn trái của Nguyễn Tấn T.
Theo Kết luận giám định số 2790/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phân Vện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên phần lưỡi của con dao bằng kim loại màu đen (loại dao bấm), dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm gửi giám định có dính máu người. Kiểu gen của mẫu máu này trùng với kiểu gen của Nguyễn Tấn T. Trên phần cán của con dao này có dính máu người. Phân tích được kiểu gen không hoàn chỉnh do dấu vết kém nên không truy nguyên được cá thể.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm, nơi rộng nhất 2,7cm, lưỡi dao có một cạnh sắc bén, mũi nhọn, cán dao có rãnh khe ở giữa, lưỡi dao có chữ Ronyang, trên cán dao có hình con bò cạp màu trắng.
Cáo trạng số 06/CT - VKS ngày 08/01/2024 của Vện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Đinh Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại D Vện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn D từ từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn tù T từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm, nơi rộng nhất 2,7cm, lưỡi dao có một cạnh sắc bén, mũi nhọn, cán dao có rãnh khe ở giữa, lưỡi dao có chữ Ronyang, trên cán dao có hình con bò cạp màu trắng là công cụ gây án không còn giá trị sử dụng.
-Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn T số tiền 100.000.000đồng bao gồm chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe, tiền tổn thất ngày công lao động, Nguyễn Tấn T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm.
Tại tòa, bị cáo khai nhận hành V phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo, bị hại có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành V tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành V tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng vắng mặt tại tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và Vệc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến Vệc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại tòa phù hợp lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/4/2023, tại ấp H, xã H, huyện C, mặc dù không có mâu thuẫn gì lớn nhưng với bản T hung hăng, côn đồ nên Đinh Văn D đã có hành V dùng hung khí nguy hiểm là 01 con dao (loại dao bấm) bằng kim loại màu đen, dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm, nơi rộng nhất 2,7cm, lưỡi dao có một cạnh sắc bén, mũi nhọn, cán dao có rãnh khe ở giữa, lưỡi dao có chữ Ronyang, trên cán dao có hình con bò cạp màu trắng đâm vào người của anh Nguyễn Tấn T gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích được giám định là 13% (Mười ba phần trăm).
. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì không kiềm chế được bản thân bị cáo đã thực hiện hành V trái pháp luật trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Hành V này đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của anh Nguyễn Tấn T đây là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặc dù tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể qua giám định của bị hại là 13% nhưng bị cáo đã có hành V dùng 01 con dao (loại dao bấm) bằng kim loại màu đen, dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm, nơi rộng nhất 2,7cm, lưỡi dao có một cạnh sắc bén, mũi nhọn, cán dao có rãnh khe ở giữa, lưỡi dao có chữ Ronyang, trên cán dao có hình con bò cạp màu trắng là hung khí nguy hiểm đồng thời giữa bị cáo và anh Tinh không có mâu thuẩn gì lớn nhưng bị cáo đâm vào người của anh Nguyễn Tấn T đồng thời giữa bị cáo và anh Tinh không có mâu thuẩn gì lớn đây là hai tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành V của bị cáo đã phạm vào tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vệc truy tố và quan điểm luận tội của Vện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội, không oan sai.
. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị hại cũng có một phần lỗi dù không lớn khi dùng tay đánh bị cáo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp tuy nhiên mức án giam theo đề nghị của vị đại D Vện kiểm sát là quá nghiêm khắc vì vậy Hội đồng xét xử xét xử không chấp nhận
. Hành V phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý hoang moang, bất an trong quần chúng nhân dân. Với nguyên nhân, T chất, mức độ và hậu quả của hành V phạm tội Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng cần thiết áp dụng hình phạt tù để cách L bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và đồng thới có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đối với hành V dùng dao chém vào người Trần Mạnh T của Nguyễn Thành Nlàm Trần Mạnh T tử vong, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bến Tre đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành Nvề tội “Giết người” và xử lý riêng là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn D 02 năm tù.
Thời hạn tù T từ ngày bắt bị cáo chấp hành phạt tù.
2.Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, dao khi bật lưỡi dao ra có chiều dài 24cm, lưỡi dao dài 11cm, nơi rộng nhất 2,7cm, lưỡi dao có một cạnh sắc bén, mũi nhọn, cán dao có rãnh khe ở giữa, lưỡi dao có chữ Ronyang, trên cán dao có hình con bò cạp màu trắng là công cụ gây án.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị cáo Đinh Văn D đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn T số tiền 100.000.000đồng bao gồm chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe, tiền tổn thất ngày công lao động, Nguyễn Tấn T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre)
4. Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đinh Văn D phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - STP tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện C (1b); - Chi cục THADS huyện C (1b); - Công an huyện C (3b); - Bộ phận HS CA huyện C (2b); - Ủy ban nhân dân xã S, huyện C (1b); - Những người tham gia tố tụng (6b); - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cƣờng |