vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26.02.2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

2. Ông Phạm Hồng Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T - sinh năm 1983; nơi cư trú: 29 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Văn H - sinh năm 1986; nơi ĐKNKTT: 29 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nơi làm việc: Nhà xe T1 - B N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (Vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn ly hôn gửi đến Tòa án ngày 18 tháng 9 năm 2023 và tại Bản tự khai ngày 02 tháng 11 năm 2023, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn H chung sống với nhau từ năm 2017 và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào năm 2022. Trong thời gian chung sống, bà và ông H thuê trọ tại 29 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, trầm trọng nhất từ tháng 6 năm 2022. Nguyên nhân là do không hợp về tính tình và quan điểm sống; ông H có nhiều lời lẽ xúc phục đến bà, thiếu trách nhiệm với gia đình; từ đó giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả. Gia đình hai bên đã nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 6 năm 2023, vợ chồng đã sống ly thân, ông H đã chuyển ra ngoài sinh sống nhưng bà không biết ở đâu và hiện nay ông vẫn làm lái xe cho nhà xe T1, Đà Nẵng. Nay, bà xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng không khắc phục được nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H.

- Về quan hệ nuôi con chung: Bà xác định bà và ông H có 01 (Một) con chung là Trần Bảo N - sinh ngày 06 tháng 9 năm 2017. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

- Về quan hệ chia tài sản: Bà xác định bà và ông H có tài sản chung, nhưng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; xác định không nợ ai và không ai nợ bà và ông H.

Tại phiên toà, bà T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

* Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng bằng hình thức giao trực tiếp cho ông Trần Văn H tại nơi làm việc, thông qua quản lý nhà xe. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, ông H vắng mặt lần hai, không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu: Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý, thời hạn giải quyết cũng như việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo các bên đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà T đối với ông H; căn cứ các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu về nuôi con của bà T. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã triệu tập hợp lệ bị đơn - ông Trần Văn H, nhưng tại phiên tòa ông H vắng mặt lần hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Minh T và ông Trần Văn H đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp.

[2.1] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông H, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, ông H không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định: Trong quá trình chung sống, giữa bà T và ông H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, trầm trọng nhất từ tháng 6 năm 2022. Nguyên nhân theo bà T trình bày là do vợ chồng không hợp về tính tình, quan điểm sống; ông H thiếu trách nhiệm với gia đình. Việc ông H không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng đã thể hiện ông H không có mong muốn đoàn tụ, để mặc cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T đối với ông H, xử cho bà T được ly hôn với ông H. [2.2] Về quan hệ nuôi con chung: Bà T và ông H có 01 (Một) con chung là Trần Bảo N - sinh ngày 06 tháng 9 năm 2017. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.

Xét, ông H không có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, con chung Trần Bảo N hiện đang sống với mẹ. Căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, xử giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên toà, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.3] Về quan hệ chia tài sản: Bà T xác định bà và ông H tự thoả thuận về tài sản chung, không nợ của ai và không có ai nợ của bà và ông H nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYÕT §ÞNH

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T đối với ông Trần Văn H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

* Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho bà T được ly hôn với ông H. * Về quan hệ nuôi con chung:

Xử: Giao con chung Trần Bảo N - sinh ngày 06 tháng 9 năm 2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. * Về quan hệ chia tài sản: Bà T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; xác định bà và ông H không nợ của ai, không có ai nợ của bà và ông H.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn ngàn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001134 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các éiều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ