vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc B đối với anh Trần Tấn H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Ngọc B và anh Trần Tấn H. Về con chung: Giao cháu Trần Phạm Ái V (giới tính: nữ), sinh ngày: 02/3/2022 cho chị Phạm Ngọc B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc B đối với anh Trần Tấn H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 01 - 2024.
“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia
đình - ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Châu Minh Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Như Kiều

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Thắm - là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc B, sinh năm 2001 ( có mặt).

Cư trú: Ấp 6, xã V Đ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Ông Trần Tấn H, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp 6, xã V Đ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Ngọc B (gọi tắt là chị B) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2021, chị B và anh Trần Tấn H do quen biết và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, hôn nhân do anh/chị cùng tự nguyện. Chị B và anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang ngày 27/01/2022. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến thời gian sau này thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên cuộc sống chung không hạnh phúc.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Phạm Ái V (giới tính: nữ), sinh ngày: 02/03/2022 hiện cháu đang sống chung với chị B, chị B yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: chị B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Tấn H vắng mặt không có lý do. Không thể hiện bất kỳ ý kiến, đề nghị gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Nguyên đơn chị Phạm Ngọc B khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn anh Trần Tấn H (cư trú trên địa bàn huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang). Đối chiếu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

. Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Tấn H tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Hưng nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh H tự nguyện kết hôn vào năm 2022 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị B và anh H được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống chị B và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị B cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh H không thể hàn gắn, chị B không thể tiếp tục sống chung với anh H được nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập chị B và anh H nhiều lần để hòa giải, động viên anh/chị đoàn tụ nhưng anh H đều vắng mặt. Trong khi đó chị B luôn cương quyết xin ly hôn. Tòa án xét thấy quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng chị Bí và anh H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà chị B yêu cầu xin ly hôn với anh H là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B. Cho chị B và anh H được ly hôn với nhau.

. Về con chung: chị B và anh H có 01 con chung tên Trần Phạm Ái V (giới tính: nữ), sinh ngày: 02/3/2022. Xét thấy, cháu V sống chung với chị B được chị B chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện của cháu V, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu V cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung: Chị B khai không có, nên Tòa án không xem xét.

. Về nợ chung: Chị B khai không có, nên Tòa án không xem xét.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà chị B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc B đối với anh Trần Tấn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Ngọc B và anh Trần Tấn H.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Phạm Ái V (giới tính: nữ), sinh ngày: 02/3/2022 cho chị Phạm Ngọc B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.

Anh Trần Tấn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Phạm Ngọc B chưa yêu cầu.

Nếu bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bên trực tiếp nuôi con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con chung của bên không trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi của các cháu, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi việc trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về tài sản chung: Chị B xác định không có, nên Tòa án không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị B xác định không có, nên Tòa án không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Ngọc B phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp theo phiếu thu số 24 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (31/01/2024). Bi đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ