vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu. Anh Nguyễn Hoàng T được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Loan - Thanh"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01-02-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mua

2. Bà Nguyễn Thị Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 491/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30/10/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 10/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1980 (xin vắng)

Địa chỉ: Khu phố A, Phường C, Thị xã B, tỉnh Bình Dương

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1980 (vắng mặt)

HKTT: Khu phố A, Phường C, Thị xã B, tỉnh Bình Dương

Chổ ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/07/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày:

Vào năm 1999 qua quen biết nên chị và anh Nguyễn Hoàng T có tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 03/07/2000 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng đi lên tỉnh Bình Dương sinh sống và hiện tại chị vẫn ở tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi và sống không hợp nhau, vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, anh T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, nên dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay.

Chị đã nhiều lần liên hệ với anh Nguyễn Hoàng T để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành, anh T không chịu đoàn tụ, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Về con chung: Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Hoàng Thanh vắng m trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.

Ngày 14/12/2023, nguyên đơn chị Bùi Thị L có đơn xin vắng mặt, chị có ý kiến trình bày: Chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T. Về con chung: Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự, thu thập chứng cứ đầy đủ, thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013, cho chị Bùi Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu, riêng cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Hoàng T chưa yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T, cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long trước khi Toà án nhân dân Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thụ lý ngày 25/07/2023 nên chuyển vụ án về Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Do anh Nguyễn Hoàng T sinh sống tại xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn chị Bùi Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1999 qua quen biết chị và anh Nguyễn Hoàng T có tiến đến hôn nhân, có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 03/07/200 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Bùi Thị L trình bày: Sau khi kết hôn thì vợ chồng đi lên tỉnh Bình Dương sinh sống và hiện tại chị vẫn ở tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi và sống không hợp nhau, vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, anh T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, nên dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay.

Chị đã nhiều lần liên hệ với anh Nguyễn Hoàng T để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành, anh T không chịu đoàn tụ, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, vợ chồng phải quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, tuy nhiên hiện tại vợ chồng chị L, anh T đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Qua đó cho thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2]. Về con chung: Chị Bùi Thị L khai có con chung với anh Nguyễn Hoàng T là cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết và cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013, hiện đang sống với chị T1 và yêu cầu nuôi con chung.

Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, môi trường sống của con hiện tại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Chị Bùi Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cháu K trên 7 tuổi cũng có nguyện vọng sống chung với chị L.

Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu, tránh thay đổi môi trường sống và học tập của cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L là giao cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Hoàng T được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị L khai chưa yêu cầu, anh Nguyễn Hoàng T cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chưa đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị L khai chưa yêu cầu, anh Nguyễn Hoàng T cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 21/09/2013 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu.

Anh Nguyễn Hoàng T được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Riêng cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003 đã trưởng thành, nên không đặt ra giải quyết.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Bùi Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0011595 ngày 19/07/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Chị Bùi Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ