vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Cầm Thị P được ly hôn anh Đinh Văn N.

Về con chung: Giao cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019 cho chị Cầm Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đinh Văn N do chị Cầm Thị P không yêu cầu. Kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Cầm Thị P và Đinh Văn N"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Cầm Thị P được ly hôn anh Đinh Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-9-2024.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Bống.

2. Ông Đinh Công Ó.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024//TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cầm Thị P, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Bản BH, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Bản T, xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 18/3/2024 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Cầm Thị P trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cầm Thị P và anh Đinh Văn N kết hôn với nhau ngày 03 tháng 12 năm 2018 tại Uỷ ban nhân dân xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 02 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 12 năm 2021 chị Cầm Thị P đã về sống tại gia đình nhà ngoại tại bản BH, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành, hai anh, chị đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Cầm Thị P làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn N.

Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02/10/2019. Nếu ly hôn nguyện vọng của chị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh N Bảo H đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động, và không yêu cầu anh Đinh Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Chị và anh tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Cầm Thị P xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại Đơn đề nghị vắng mặt tại phiên hoà giải và tại phiên toà ngày 03/9/2024, Bản tự khai ghi ngày 19/8/2024, ngày 03/9/2024 có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La anh Đinh Văn N trình bày:

Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh hoàn toàn nhất trí như ý kiến của chị Cầm Thị P trình bày. Vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 03/12/2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 2 năm 2021 thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Chị Cầm Thị P có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh, ý kiến của anh Đinh Văn N là nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh xác định có 01 con chung như chị Cầm Thị P trình bày. Nếu trường hợp ly hôn, anh Đinh Văn N nhất trí nhường quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019 cho đến khi đủ 18 tuổi, có khả năng lao động cho chị Cầm Thị P về cấp dưỡng anh, chị tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, bị đơn xin được giải quyết, xét xử vắng mặt. Toà án áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử cho Chị Cầm Thị P được ly hôn với anh Đinh Văn N.

- Về con chung: Giao cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02/10/2019 cho chị Cầm Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đinh Văn N do chị Cầm Thị P không yêu cầu.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Cầm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn anh Đinh Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trong quá trình giải quyết vụ án về phía bị đơn anh Đinh Văn N đã được nhận tài liệu gồm Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác do nguyên đơn cung cấp, đã nhận được văn bản tố tụng của Toà án. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cầm Thị P và anh tự thoả thuận kết hôn với nhau ngày 03 tháng 12 năm 2018. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TY, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Cầm Thị P và anh Đinh Văn N là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 02 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 12 năm 2021 chị Cầm Thị P đã về sống tại gia đình nhà ngoại tại bản BH, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành, hai anh, chị đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Cầm Thị P và anh Đinh Văn N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho Chị Cầm Thị P được ly hôn anh Đinh Văn N.

Về con chung: Chị Cầm Thị P và anh Đinh Văn N có 01 con chung là cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02/10/2019. Chị Cầm Thị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh N Bảo H. cho đến khi thành niên 18 tuổi và có khả năng lao động. Xét thấy, Cháu Đinh N Bảo H hiện nay đang sống cùng với chị Cầm Thị P. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cần giao cháu cháu Đinh N Bảo H cho chị Cầm Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị Cầm Thị P không yêu cầu, do đó cần tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Cầm Văn N.

4] Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận, phân chia, thanh toán không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Cầm Thị P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử cho chị Cầm Thị P được ly hôn anh Đinh Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh N Bảo H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019 cho chị Cầm Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đinh Văn N do chị Cầm Thị P không yêu cầu. Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Cầm Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: BLTU/23/0000547 ngày 26 tháng 8 năm 2024.

5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/9/2024). Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ