- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Triệu Thị Th yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Triệu Hữu Ch"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Triệu Thị Th và ông Triệu Hữu Ch.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày 25–06- 2024 “V/v: Không công nhận vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang, ông Ngô Trọng Búp
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Linh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:17/2024/TLST–HNGĐ ngày 27/02/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Triệu Thị Th, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn TD, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Bà Th có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Triệu Hữu Ch, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn TD, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Triệu Thị Th trình bày:
Bà Triệu Thị Th và ông Triệu Hữu Ch sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2009, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống dẫn đến xô xát, xảy ra mâu thuẫn với con riêng của ông Ch. Có thời gian ông Ch bỏ nhà đi chung sống với người phụ nữ khác. Bà Th và ông Chìu sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Th đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung trong quá trình sống chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Triệu Hữu Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không cung cấp văn bản và tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) và thư ký phiên tòa tại phên tòa đã thực hiện đúng quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành các giấy triệu tập của Toà án, vắng mặt không có lý do. Đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX Không công nhận bà Triệu Thị Th và ông Triệu Hữu Ch là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Triệu Thị Th xin ly hôn với bị đơn ông Triệu Hữu Ch hiện đang cư trú tại Thôn TD, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nên Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
- Về thủ tục vắng mặt các đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX cần áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Xét việc nguyên đơn và bị đơn sống chung như vợ chồng từ năm 2009 cho đến nay, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”
Căn cứ quy định trên, HĐXX cần xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Triệu Thị Th phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí, án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Triệu Thị Th và ông Triệu Hữu Ch.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự cho nguyên đơn bà Triệu Thị Th.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện M’Đrắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - THADS huyện M’Đrắk; - Đương sự; - UBND xã Cư San, huyện M’Đrắk; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hải |