- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Dương Thị S được ly hôn với Huỳnh Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-02-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Diễm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quang Kim Cúc;
Ông Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02/11/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Dương Thị S - Sinh năm: 1993. Địa chỉ: xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. HKTT: xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Huỳnh Văn N - Sinh năm: 1989. Địa chỉ: xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn Dương Thị S trình bày:
- Về hôn nhân: Dương Thị S và Huỳnh Văn N do mai mối tìm hiểu quen nhau rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều điểm bất đồng cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, anh N không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình mà thường xuyên cờ bạc nợ nần chị S đã nhiều lần khuyên nhưng anh N không thay đổi nên chị S đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay, từ những nguyên nhân đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không đạt chị S nhận thấy tình cảm không còn nữa nay Dương Thị S xin được ly hôn với Huỳnh Văn N;
- Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Trọng K, sinh ngày 30/6/2011; Huỳnh Nhã H, sinh ngày 23/3/2018, Dương Thị S yêu cầu nuôi con tên Huỳnh Nhã Hân đồng ý giao con tên Huỳnh Trọng K cho Huỳnh Văn N nuôi và không ai phải cấp dưỡng nuôi con, hiện cháu K đang sống với cha và cháu Hân đang sống với mẹ.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Xét thấy, việc tranh chấp về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con giữa Dương Thị S và Huỳnh Văn N theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với Huỳnh Văn N để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử nên xét xử vắng mặt đối với Huỳnh Văn N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị S và anh N có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung có nhiều điểm bất đồng cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, anh N không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình mà thường xuyên cờ bạc nợ nần chị S đã nhiều lần khuyên nhưng anh N không thay đổi nên chị S đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay, tình trạng hôn nhân của chị S và anh N như trên được chứng minh bằng hành động cụ thể là anh N không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặt không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị S vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với anh N, mâu thuẩn của chị S và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị S yêu cầu ly hôn là thỏa mãn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S là có căn cứ.
[3] Về con chung: Chị S và anh N có 02 con chung tên Huỳnh Trọng K, sinh ngày 30/6/2011; Huỳnh Nhã H, sinh ngày 23/3/2018, chị S yêu cầu nuôi con tên Huỳnh Nhã H đồng ý giao con tên Huỳnh Trọng K cho anh N nuôi từ khi vợ chồng xa nhau chị S trực tiếp nuôi con cháu việc giao con cho ai nuôi là xem xét điều kiện để nuôi con, chị S đang trực tiếp nuôi dạy con tốt, có đủ điều kiện nuôi con nên chấp nhận yêu cầu của chị S; đối với cháu Huỳnh Trọng K cũng có ý kiến muốn sống với cha, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho Huỳnh Văn N nhưng Huỳnh Văn N không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử chấp nhận là có căn cứ theo quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con và anh N cũng bỏ mặt không ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản và nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Dương Thị S được ly hôn với Huỳnh Văn N.
2. Về con chung: Dương Thị S được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Nhã Hân, sinh ngày 23/3/2018 và Huỳnh Văn N được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Trọng Khang, sinh ngày 30/6/2011 .
Dương Thị S; Huỳnh Văn N phải tạo điều kiện cho nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn không ai được cản trở.
3. Về án phí và tạm ứng án phí: Dương Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà Dương Thị S đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001251, ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Dương Thị S đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/02/2024). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện LV; - CCTHADS huyện LV; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cao Diễm |