vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Văn Thị Ngọc Th).

Về quan hệ hôn nhân giữa chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 25/11/2008 của UBND xã HT, KB, tỉnh Đắk Lắk không còn hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ ( Văn Thị Ngọc Th - Phạm Ngọc H)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Văn Thị Ngọc Th).
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông R Mah In ( Ama Ka)

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Anh – Kiểm sát viên

Vào ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

+ Nguyên Đơn: Chị Văn Thị Ngọc Th ( tên gọi khác: B), sinh năm 1989

+ Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H ( tên gọi khác: T), sinh năm 1980

Đồng trú tại: Thôn A, xã HT , huyện KB, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và các biên bản làm việc cũng như tại phiên toà, các đương sự trình bày:

Về hôn nhân: Chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H tự nguyện kết hôn với nhau và đã đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã HT, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2008.

Theo chị Văn Thị Ngọc Th thì mặc dù chị và anh Phạm Ngọc H vẫn còn chung sống với nhau dưới một mái nhà nhưng hơn một năm nay chị và anh Phạm Ngọc H không ai quan tâm đến ai, không gần gũi hay chăm sóc nhau, ai làm gì cũng kệ, không nói chuyện được với nhau, chỉ nói với nhau được vài câu là vợ chồng lại to tiếng với nhau, thậm chí đuổi đánh nhau. Cuộc sống gia đình không hoà thuận, không có hạnh phúc. Nhận thấy, không thể hoà hợp để duy trì hạnh phúc gia đình nên chị có nguyện vọng được ly hôn với anh Phạm Ngọc H .

Còn anh Phạm Ngọc H thì không muốn ly hôn vì anh còn thương vợ và vì các con còn nhỏ, anh Phạm Ngọc H mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con, lo cho đứa con út ít nhất phải học mẫu giáo mới tính đến chuyện ly hôn .

Về con chung: Chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H có ba người con chung là: Phạm Văn C, sinh ngày 20/5/2009, Phạm Thị Ngọc Th, sinh ngày 03/08/2012 và Phạm Thị Mỹ D, sinh ngày 29/06/2023

Chị Văn Thị Ngọc Th có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 người con chung nhưng trường hợp anh Phạm Ngọc H dành quyền nuôi cả 03 người con chung thì chị Văn Thị Ngọc Th cũng đồng ý giao cả 03 người con chung là Phạm Văn C , sinh ngày 20/5/2009, Phạm Thị Ngọc Th, sinh ngày 03/08/2012 và Phạm Thị Mỹ D, sinh ngày 29/06/2023 cho anh Phạm Ngọc H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, vì khi ly hôn với anh Phạm Ngọc H chị Văn Thị Ngọc Th không có nhà cửa hay tài sản gì, chị sẽ ra khỏi nhà và đi làm thuê kiếm sống nên việc đưa con theo sẽ không đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho con .

Anh Phạm Ngọc H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 người con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Chị Văn Thị Ngọc Th không yêu cầu Toà án giải quyết

Anh Phạm Ngọc H yêu cầu chị Văn Thị Ngọc Th cấp dưỡng nuôi con nhưng hiện giờ anh Phạm Ngọc H không biết yêu cầu chị Văn Thị Ngọc Th cấp dưỡng nuôi con với số tiền là bao nhiêu. Vì vậy, trường hợp sau này chi phí học hành cho con phát sinh và tính toán cụ thể , anh Phạm Ngọc H sẽ yêu cầu Toà án giải quyết bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung :

Chị Văn Thị Ngọc Th không yêu cầu Toà án giải quyết

Anh Phạm Ngọc H không yêu cầu phân chia tài sản chung nhưng mong muốn chị Văn Thị Ngọc Th chịu trách nhiệm trả nợ chung cùng với anh. Tuy nhiên, tại phiên toà anh Phạm Ngọc H chưa thống kê được số nợ cũng như các thông tin liên quan đến chủ nợ. Vì vậy, anh Phạm Ngọc H sẽ yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nợ chung bằng một vụ án khác.

Về án phí:

Chị Văn Thị Ngọc Th tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Anh Phạm Ngọc H đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Tại các bản tự khai ngày 15/9/2024, cháu Phạm Văn C và Phạm Thị Ngọc Th trình bày: Khi cha mẹ cháu ly hôn thì các cháu muốn ở với mẹ vì bố hay thường xuyên chửi con, còn mẹ thì không chửi con , thương yêu con.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương ngày 23/4/2024, cho thấy: Anh Phạm Ngọc H và chị Văn Thị Ngọc Th hiện đang sinh sống tại địa phương, vợ chồng không có tai tiếng hay ồn ào gì. Anh Phạm Ngọc H thì siêng năng làm ăn, không cờ bạc, rượu chè, trai gái. Mâu thuẫn giữa anh Phạm Ngọc H và chị Văn Thị Ngọc Th như thế nào địa phương không biết . Anh Phạm Ngọc H và chị Văn Thị Ngọc Th đều khoẻ mạnh, làm nông, đất đai thì của bố mẹ anh Phạm Ngọc H cho vợ chồng làm nhà sinh sống và làm ăn. Tài sản riêng không có gì

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã được đảm bảo đầy đủ các quyền và lời ích hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kđơn khởi kiện của chị Văn Thị Ngọc Th về việc xin ly hôn với anh Phạm Ngọc H

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa anh Phạm Ngọc H và chị Văn Thị Ngọc Th về việc các đương sự thoả thuận giao cả 03 người con chung chưa thành niên là Phạm Văn C, sinh ngày 20/5/2009, Phạm Thị Ngọc Th, sinh ngày 03/08/2012 và Phạm Thị Mỹ D, sinh ngày 29/06/2023 cho anh Phạm Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Văn Thị Ngọc Th tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết “ly hôn và tranh chấp về con chung” , các đương sự đều có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại huyện KB, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Về hôn nhân: Chi Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H tự nguyện kết hôn với nhau và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã HT, KB, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2008. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy chị Văn Thị Ngọc Th mong muốn vợ chồng ly hôn vì cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau. Mặc dù anh Phạm Ngọc H không muốn ly hôn vì anh còn thương yêu vợ và thương các con , anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng làm ăn, nuôi dạy các con cho đến ngày đứa út đi học mẫu giáo.

Tuy vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H không có sự chia sẻ, tôn trọng và quan tâm , chăm sóc nhau và mang lại hạnh phúc cho nhau. Trong một thời gian dài, anh Phạm Ngọc H và chị Văn Thị Ngọc Th không hoà giải để hành gắn hạnh phúc gia đình mà cuộc sống chung ngày càng nặng nề, ngột ngạt. Mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Văn Thị Ngọc Th đối với anh Phạm Ngọc H .

Về con chung: Chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H có 03 người con chung là: Phạm Văn C, sinh ngày 20/5/2009, Phạm Thị Ngọc Th, sinh ngày 03/08/2012 và Phạm Thị Mỹ D sinh ngày 29/06/2023. Khi ly hôn, các đương sự thoả thuận giao cả 03 người con chung cho anh Phạm Ngọc H trực tiếp chăm sóc , nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Sự thoả thuận này là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Văn Thị Ngọc Th tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 55, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Văn Thị Ngọc Th).

1. Về quan hệ hôn nhân giữa chị Văn Thị Ngọc Th và anh Phạm Ngọc H chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 25/11/2008 của UBND xã HT, KB, tỉnh Đắk Lắk không còn hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Giao cả 03 người con chung là Phạm Văn C, sinh ngày 20/5/2009, Phạm Thị Ngọc Th, sinh ngày 03/08/2012 và Phạm Thị Mỹ D, sinh ngày 29/06/2023 anh Phạm Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bên không trực tiếp nuôi con thực hiện các quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

4. Về án phí: Chị Văn Thị Ngọc Th tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị Văn Thị Ngọc Th đã nộp theo biên lai số 000703 ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk

5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ