vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng ly hôn anh Nguyễn Bá C. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Bá Q, sinh ngày 06/02/2020 và Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 05/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 02 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Sơn.

Bà Huỳnh Thị Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 454/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023, về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024; và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà 01, đường số 37, tổ 7, thôn 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá C, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ 4, thôn 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Nay tạm trú tại: Số nhà 3, đường số 28, tổ 1B, thôn 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết Ng trình bày:

Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng và anh Nguyễn Bá C tự nguyện tìm hiểu, và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, số giấy chứng nhận kết hôn 60, đăng ký ngày 23/6/2021. Quá trình chung sống giữa anh chị hạnh phúc được thời gian ban đấu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn là do hai người có cách sống và suy nghĩ khác nhau; từ đó, làm cho tình cảm của chị đối với anh C phai nhạt dần. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh C, giữa vợ chồng anh chị không còn yêu thương, quý trọng nhau nên chị mong muốn được ly hôn với anh C.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bá Q, sinh ngày 06/02/2020 và Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 05/4/2021. Nay 02 con Q và T đang sống với chị, khi ly hôn thì chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con và chị yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con hàng tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản khai vào ngày 15/11/2023 của bị đơn anh Nguyễn Bá C trình bày:

Nay, anh C thống nhất toàn bộ nội dung do chị Nguyễn Thị Tuyết Ng trình bày về hôn nhân, về con chung. Về mâu thuãn xảy ra giữa vợ chồng, thì anh thừa nhận việc anh hay đi nhậu về thướng nói chuyện thì chị Ng không thích nên dẫn đến cải vả chứ anh chị không xảy ra xung đột. Việc chị Ng yêu cầu ly hôn với anh thì anh C không đồng ý, bởi anh cho rằng còn thương chị và anh không muốn gia đình đổ vở.

Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Tuyết Ng ly hôn với anh Nguyễn Bá C, được thể hiện tại Bản khai ngày 26/12/2023 của ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1952 là cha ruột của anh Nguyễn Bá C, cùng trú tại: Tổ 4, thôn 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đã cung cấp một số thông tin như sau:

Trước đây, con trai anh Nguyễn Bá C và con dâu chị Nguyễn Thị Tuyết Ng đã có vợ, có chồng nhưng đều đã ly hôn, đối với con dâu chị Ng có đứa con trai riêng. Sau đó hai con thương nhau nên hai gia đình đã làm đám cưới theo truyền thống tại nhà ông B. Trong quá trình vợ chồng Ng và C sống ở với gia đình ông B, thì có việc anh C và chị Ng hay cải vả và đánh nhau khi ông B vắng nhà. Đến tết năm 2022, thì anh C và chị Ng xin ra thuê nhà trọ ở tại thôn 2, xã M. Khi ở tại nhà trọ thì anh chị xảy ra việc đánh đập nhau nên chị Ng bỏ về gia đình bên ngoại (nhà cha mẹ ruột của chị Ng). Sau đó, chị Ng có đơn ly hôn và được hai gia đình góp ý nên chị Ng chấp nhận đã rút đơn.

Theo ông B có ý kiến nhận xét về con trai ông là anh C đó là có tính gia trưởng, độc đoán và hẹp hòi, ích kỷ cho nên con dâu là chị Ng không thể chịu đựng nỗi, mặc dù nhiều lần chị Ng kiên nhẫn để hòa thuận nhưng lần này không thể tiếp tục chịu nỗi nữa, nên chị Ng làm đơn đến Tòa án xin ly hôn với anh C là đúng sự thực. Còn bản chất con dâu của ông là chị Ng thật thà, đảm đang và hết sức chịu khó, lo làm ăn chứ không có tính hồ đồ, mọi sự việc là do con trai của ông gây ra là do C quá ghen. Vì vậy, ông đại diện cho gia đình bên nội đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn sớm.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án, nhưng bị đơn anh C không tham gia nên không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1.3] Về xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; còn nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt tại phiên tòa đối với nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng và anh Nguyễn Bá C tự nguyện tìm hiểu, và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 60, đăng ký ngày 23/6/2021. Quá trình chung sống giữa anh chị hạnh phúc được thời gian ban đấu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn là do hai người có cách sống và suy nghĩ khác nhau; từ đó, làm cho tình cảm của chị đối với anh C phai nhạt dần. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh C, giữa vợ chồng anh chị không còn yêu thương, quý trọng nhau nên chị Ng mong muốn được ly hôn với anh C.

Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên nghĩ cần xử cho chị Ng ly hôn anh C là phù hợp.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bá Q, sinh ngày 06/02/2020 và Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 05/4/2021. Xét thấy hiện nay 02 con Q và T còn nhỏ và đang sống với chị Ng, theo nguyện vọng của chị Ng yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung. Từ đó, nghĩ cần xem xét giao 02 con Q và T cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Nay, chị Ng yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.500.000 đồng/con) là phù hợp với mức chi phí trung bình hiện nay tại địa phương, nghĩ nên buộc anh C phải cấp dưỡng nuôi 02 con Q và T mỗi tháng là 3.000.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 3/2024 cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về áp dụng án lệ: Sau khi rà soát các án lệ đã được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao công bố thấy rằng: Nội dung tranh chấp của vụ án không có những tình tiết, sự kiện tương tự đã được nêu trong các án lệ nên không áp dụng án lệ để giải quyết tranh chấp này, mà căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Về án phí: Chị Ng chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; anh C chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng ly hôn anh Nguyễn Bá C.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Bá Q, sinh ngày 06/02/2020 và Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 05/4/2021.

Anh Nguyễn Bá C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Ng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Bá C phải cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung tên Nguyễn Bá Q và Nguyễn Ngọc Cát T cho chị Nguyễn Thị Tuyết Ng là 3.000.000 đồng/tháng (1.500.000 đồng/con), cấp dưỡng từ tháng 3/2024 cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị Nguyễn Thị Tuyết Ng có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị Ng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017646 ngày 23 tháng 10 năm 2023. Chị Nguyễn Thị Tuyết Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Bá C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ