- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị Thanh H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh H1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Bùi Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Minh H1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-3-2024 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hạnh;
Ông Bùi Huy Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 478/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04A/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1979 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm: 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh H trình bày:
Bà Bùi Thị Thanh H và ông Nguyễn Minh H1 qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau đã tiến đến hôn nhân, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H1 không tôn trọng bà H, việc làm ăn không bàn bạc với bà H dẫn đến nợ nần, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được và ông H1, bà H đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, từ khi ly thân đến nay ông H1 và bà H không hỏi han, quan tâm, lo lắng cho nhau. Nay bà H cảm thấy không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà H và ông H1 có 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 08/10/2005 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo N1, sinh ngày 27/7/2010. Hiện nay cháu H2 đã trường thành. Nếu ly hôn bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N1 và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung, bà H không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Minh H1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập, thông báo đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông H1 vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và ghi nhận ý kiến của ông H1 được.
Kết quả thu thập chứng cứ: Theo kết quả xác minh tại địa phương, nơi sinh sống của bà H, ông H1 ngày 04/01/2024 ghi nhận được nội dung sau: Thời gian đầu bà H và ông H1 chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy ông H1 và bà H thường xuyên mâu thuẫn, và cãi nhau. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H biết từ việc bà H kể lại là do nợ nần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng nên làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Bùi Thị Thanh H và ông Nguyễn Minh H1 có đăng ký kết hôn, nay bà H xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn ông Nguyễn Minh H1 đang cư trú tại xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.
Bà Bùi Thị Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Minh H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bà H và ông H1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thanh H và ông Nguyễn Minh H1 kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H1 không tôn trọng bà H, việc làm ăn ông H1 không bàn bạc với bà H dẫn đến nợ nần, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được và ông H1, bà H đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, từ khi ly thân đến nay ông H1 và bà H không hỏi han, quan tâm, lo lắng cho nhau. Nay bà H cảm thấy không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H1.
Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương ngày 04/01/2024 ghi nhận được nội dung, thời gian đầu bà H và ông H1 chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy ông H1 và bà H thường xuyên mâu thuẫn, và cãi nhau. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H biết từ việc bà H kể lại là do nợ nần.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập các bên đến trụ sở Toà án nhằm để ghi nhận ý kiến và hoà giải, nhưng do ông H1 vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải hàn gắn được.
Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương nhận thấy có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, cả hai đều không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H1.
Về con chung: Bà H và ông H1 có 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 08/10/2005 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo N1, sinh ngày 27/7/2010. Hiện nay cháu H2 đã trưởng thành. Bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N1 và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi nhận được nguyện vọng của con chung là cháu N1 với nội dung, cháu N1 có nguyện vọng được sống chung với bà H.
Ông H1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày nguyện vọng về con chung, nên Tòa án không thể ghi nhận nguyện vọng của ông H1 về giải quyết con chung.
Căn cứ vào ý kiến, nguyện vọng của nguyên đơn bà H, con chung cháu N1 và nhận thấy từ khi bà H và ông H1 ly thân thì cháu N1 sống chung với bà H và bà H vẫn đảm bảo sự ổn định về các tâm sinh lý cũng như sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu N1. Bà H là người có công ăn việc làm ổn định đủ điều kiện để nuôi con chung. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung sau khi ly hôn nên giao cháu N1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vì bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần ghi nhận sự tự nguyện của bà H là không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Thanh H không yêu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.
Về án phí: Bà Bùi Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Xử cho bà Bùi Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Minh H1.
Về con chung: Bà Bùi Thị Thanh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo N1, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2010. Ông Nguyễn Minh H1 không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Minh H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Thanh H không yêu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Bùi Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001675, ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Bùi Thị Thanh H đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/03/2024) các đương sự được quyền kháng cáo. Do bà H và ông H1 đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TA Tỉnh; - VKSND huyện Châu Đức; - THADS huyện Châu Đức; - UBND xã B; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tiến |