vanban.org

Bản án 13/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Mai Thị H.

[1]. Buộc bà Mai Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15-3-2024) với tổng số tiền là 14.218.636đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16-3-2024) cho đến khi trả hết nợ, bà H còn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng SGTT- Mai Thị Hòa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Mai Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS–ST
Ngày: 15-3-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Song Hoàn;

2. Bà Ngô Thị Thúy Hảo.

-Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 624/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST- HPT ngày 23-02-2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: đường N, quận M, Thành phố H

- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức T D. Chức vụ: Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc Kh; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh B

- Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị H Y. Chức vụ: chuyên viên kiểm soát rủi ro - Ngân hàng TMCP S chi nhánh B

Địa chỉ: đường D, phường P, thành phố V, tỉnh B

2. Bị đơn: Bà Mai Thị H, sinh năm 1974

Địa chỉ: đường L, phường T, thành phố V, tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S bà Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày:

Ngày 01-12-2022, bà Mai Thị H và Ngân hàng TMCP S có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng gọi chung là hợp đồng), số thẻ 472074-7554, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất 33.2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ, bà H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 36.834.000 đồng. Số tiền này, bà H thanh toán theo thứ tự như sau: phí hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Sau khi trừ hết các số tiền trên thì số tiền gốc bà H chưa thanh toán là 8.007.621 đồng.

Qua nhiều lần ngân hàng ra thông báo nhắc nợ nhưng bà H không thực hiện thanh toán cho ngân hàng. Vì vậy, từ ngày 10-7-2023, ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), áp dụng lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Tính đến ngày 15-3-2024, bà H còn nợ ngân hàng 14.218.636 đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015 đồng

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Mai Thị H thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 15-3-2024 tổng số tiền là 14.218.636 đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nêu trên kể từ ngày 16-3-2024 cho đến khi bà H thanh toán hết số tiền nợ.

Nguyên đơn xác nhận đây là khoản nợ của cá nhân bà H, nguyên đơn chỉ yêu cầu một mình bà H có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên. Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn bà Mai Thị H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng vì vậy, tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Mai Thị H trả nợ theo hợp đồng đã giao kết. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Mai Thị H có địa chỉ thường trú tại thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa

Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà Y.

Bị đơn bà Mai Thị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung:

. Đối với số tiền nợ gốc: Lời khai của đại diện nguyên đơn cấp hạn mức tín dụng bà H là 20.000.000 đồng hoàn toàn phù hợp với chứng cứ nguyên đơn cung cấp là (giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng gọi chung là hợp đồng) và các tài liệu, chứng cứ khác nguyên đơn cung cấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận việc nguyên đơn có ký kết hợp đồng sử dụng thẻ cho bị đơn với hạn mức 20.000.000 đồng là hoàn toàn có thật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 40.000.000 đồng.Từ ngày kích hoạt thẻ, bà H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 36.834.000 đồng. Số tiền này được áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng theo thứ tự thanh toán: phí hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Sau khi trừ hết số tiền trên thì số tiền gốc bà H chưa thanh toán là 8.007.621 đồng.

Tính đến ngày 15-3-2024, bà H còn nợ ngân hàng 14.218.636 đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015 đồng. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bà H trả số tiền nợ gốc 8.007.621 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Đối với số tiền lãi: Bà H đã vi phạm thời hạn trả nợ nên phải chịu lãi suất, tính đến ngày 15-3-2024 số tiền lãi quá hạn là 6.211.015 đồng nên buộc bà Hòa trả số tiền lãi nêu trên và tiếp tục trả lãi theo lãi suất thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký, từ ngày 16-3-2024 cho đến khi trả hết nợ.

Từ những căn cứ và phân tích như trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Mai Thị H phải thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày 15-3-2024 tổng số tiền 14.218.636 đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015 đồng và tiếp tục trả lãi theo lãi suất thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký từ ngày 16-3-2024 cho đến khi trả hết nợ.

. Án phí Dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Mai Thị H.

[1]. Buộc bà Mai Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15-3-2024) với tổng số tiền là 14.218.636đồng trong đó nợ gốc là 8.007.621 đồng, lãi quá hạn là 6.211.015đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16-3-2024) cho đến khi trả hết nợ, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01-12-2022 và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng được ký giữa Ngân hàng TMCP S và bà Mai Thị H.

[2]. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Mai Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 710.932đồng (bảy trăm mười nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng).

- Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 600.000đ đồng (sáu trăm ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001485 ngày 25-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ