- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2023/HSST Ngày:11-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Chau Khon Sốc
2. Bà: Lưu Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:
Bà Trầm Ngọc Minh Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử s th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/HSST, ngày 17 tháng 3 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H(tên gọi khác: Không), sinh năm 1986 thành phố Long Xuyên, t nh n Giang.
N i cư trú: Tây Khánh 8, phường M, thành phố L, t nh n Giang; n i ở: Tây Khánh 8, phường M, thành phố L, t nh n Giang; số CMND/CCCD: 351827***; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ văn h a: lớp 5/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1960; anh em có 03 người, bị cáo là người nhỏ nhất; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; tiền án: Ngày 06/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm tù về t i “tr m cắp tài sản”, ngày 28-12-2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành nghĩa vụ dân sự và án phí; tiền sự: Không; ngày 01-9-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, t nh n Giang quyết định đưa vào c sở cai nghiện bắt bu c với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 17-4-2018; ngày 20-11-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, t nh n Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25-11-2019 chấp hành xong hình phạt tù và nghĩa vụ án phí; bị cáo c m t tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Chau T, sinh năm: 1986; địa ch : Ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh An Giang, (có m t)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Thế H, sinh năm 1991; địa ch : Ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh An Giang, (có m t)
- Người làm chứng:
Ông Chau Hath T, sinh năm 1961; địa ch : Khóm 6, thị trấn T1, huyện T, t nh An Giang, (vắng m t)
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1998; địa ch : Ấp Tô Thuận, xã N, huyện T, t nh An Giang, (có m t)
Ông Bùi Văn S, sinh năm 1978; địa ch : Ấp Tô Thuận, xã N, huyện T, t nh An Giang, (vắng m t)
- Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm: 1964; địa ch : Ấp P xã C, huyện T , t nh An Giang, (có m t)
NỘI DUNG V ÁN
Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được t m tắt như sau: Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 30-12-2022, Nguyễn Văn Hđi b đến khu vực hồ Soài Chek thu c ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh n Giang, thấy 01 xe mô tô 67N7-5834, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu đỏ, đen của ông Chau T đang dựng dưới đường đất, trên yên xe để 01 bao cỏ, đầu hướng về xã Núi Tô, đuôi xe hướng về thị trấn Tri Tôn, c gắn sẵn chìa kh a xe và không ai trông giữ, nên nảy sinh ý định lấy tr m xe để làm phư ng tiện sử dụng. H lại lấy bao cỏ bỏ xuống đường, khởi đ ng máy lấy tr m xe mô tô chạy về nhà T (em vợ của H), ngụ ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, rồi dùng dao tháo rời biển số xe. Ngay lúc H lấy tr m xe chạy đi, ông T phát hiện truy đuổi theo thì được Chau Hath T, Bùi Văn Sáng cho biết H chạy xe về nhà của T. C quan điều tra Công an huyện Tri Tôn phát hiện H cùng xe mô tô 67N-5834 của ông T nên tiến hành bắt kh n cấp H.
Đến ngày 06-01-2023, H bị khởi tố, bắt giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô không biển số, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS, màu đỏ đen, số máy 0620168, số khung 015465 và 01 biển số xe mô tô 67N7-5834.
01 đôi dép nhựa màu trắng đen c chữ Fashion;
01 cây dao bằng kim loại màu trắng dai 33cm, cán dao dài 11,5cm, trên cán dao c chữ số W806, lưỡi dao dài 21,5cm, lưỡi dao r ng nhất 3,5cm, n i hẹp nhất là mũi dao, trên lưỡi dao c chữ KiWi – BRAND MADE IN THAILAND.
01 áo thun ngắn tay màu đỏ, trước ngực c dòng chữ PRO SPORTS;
01 cái quần thun dài, loại quần thể thao màu đen, hai bên ống quần c 03 sọc trắng.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Hkhai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình:
Bị cáo Nguyễn Văn H khai: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 29-12-2023 bị cáo c điện thoại cho chị T (em vợ của bị cáo) xuống rước bị cáo lên nhà ch i, nhà chị T nhà ở ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh n Giang, tại nhà chị T bị cáo cùng Bình, chị T và chồng chị T (tên Bùi Thế H) uống hết 40.000 đồng rượu trắng. Sau khi uống xong bị cáo ngủ lại nhà chị T, qua hôm sau khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 30-12-2023 bị cáo và T tiếp tục uống rượu hết 20.000 đồng rượu trắng, nH đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày thì ngh . Tiếp đ , bị cáo đi b theo hướng hồ Soài Chek đi về, trên đường về bị cáo mệt nên ngồi ngh do trong người c rượu, lúc này bị cáo phát hiện 01 xe mô tô Wave RS màu đỏ đen trên xe c chở bao cỏ, nên bị cáo đã nảy sinh ý định lấy tr m xe mô tô để làm phư ng tiện đi lại. Bị cáo đến gần xe thấy xe mô tô c gắn sẵn chìa kh a, bị cáo bỏ bao cỏ xuống và đề máy xe chạy về nhà chị T, chạy ra phía sau. Bị cáo đi vào phòng chị T cởi áo thun ra nhét dưới nệm chị T không biết. Tiếp đ bị cáo gỡ biển số ra để đổi biển số, bị cáo g p H (chồng chị T) hỏi c chìa kh a số 10 không, H nói không có, không có chìa kh a số 10 nên bị cáo dùng dao để nạy biển số. Lúc này lực lượng công an đến mời bị cáo về trụ sở làm việc, tại trụ sở công an bị cáo đã khai nhận hành vi phạm t i.
Bị hại: Chau T khai: Khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 30-12-2022 ông điều khiển xe mô tô từ nhà thu c ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh n Giang đến khu vực hồ Soài Chek để cắt cỏ, ông để kh a gắn sẵn vào xe xuống cắt cỏ và sau khi cắt được 1 bao ông đem lên để yên xe c t lại, sau đ xuống cắt tiếp, ông cắt cỏ cách xe khoảng 30m. Đến khoảng 9 giờ 15 phút cùng ngày ông nhìn thấy c 01 người T niên đến gần xe của ông và bỏ bao cỏ xuống xe, ông la lên người T niên đề máy xe và chạy đi. Sau đ ông báo công an, lực lượng công an phát hiện xe của ông cùng người lấy tr m. Hiện nay ông đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thế H khai: Bị cáo c đến nhà T (vợ) để nH vào ngày 29-12-2022, ngủ lại nhà, qua hôm sau bị cáo nH tiếp, sau đ bị cáo về, m t lúc xe nghe tiếng xe ông bước ra thấy bị cáo chạy 01 chiếc xe mô tô, bị cáo có hỏi ông c chìa kh a 10 không, ông trả lời không c , bị cáo lấy 01 cây dao để nạy biển số xe, sau đ ông đi vào trong nhà. M t lúc sau ông nghe la ăn tr m xe ông đi ra thì g p chiếc xe mô tô vẫn còn, biển số rớt dưới đất, thấy vậy ông lượm biển số để lên kẹt đá sau nhà. M t lúc sau lực lượng công an đến mời bị cáo cùng vợ chồng tôi về trụ sở làm việc.
Người làm chứng: Bà T khai: Khoảng 18 giờ ngày 29/12/2022 khi nhà bà ở ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, t nh n Giang, bà c nhận được điện thoại của mẹ bà n i anh rễ (Nguyễn Văn H) kêu bà lên rước xuống nhà bà ch i, sau đ bà chạy xe lên chợ rau Tri Tôn chở bị cáo H về nhà bà ch i, đến nhà bà cùng bị cáo, chồng (Bùi Văn H), Bình uống hết 40.000 đồng rượu trắng rồi ngh , bị cáo H ngủ tại nhà bà. Qua hôm sau bị cáo cùng bà uống thêm 20.000 đồng rượu trắng uống đến khoảng 9 giờ 10 phút thì ngh , bà vào phòng nằm ngủ, do ngủ say nên bà không nghe tiếng xe. Sau đ bà nghe la ăn tr m bà bước ra Công an kêu mở cửa, bà ngh là anh Dư ng tr m xe nên mới ch hướng lên núi. Sau đ , bà phát hiện bị cáo trốn trong phòng ngủ của bà. Việc bị cáo cất giấu áo thun dưới nệm bà không biết, khi bà dọn phòng mới phát hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hđủ yếu tố cấu thành t i Tr m cắp tài sản.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 88 ngày 31-12-2022 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67N7-5834, số máy 0620168, hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ đen (đã qua sử dụng) trị giá 6.000.000 đồng.
Căn cứ kết luận giám định số 16/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 31-01-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh n Giang, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép 03 tập tin Video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
Trích xuất 14 ảnh từ dữ liệu 03 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu ) do C quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tri Tôn gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo (BL 81-91).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không c ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản của H i đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKSTT.HS ngày 16 tháng 3năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hvề t i “Tr m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận t i và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 B luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Htừ 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù về t i “Tr m cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu c thành phần lao đ ng nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với T, Bùi Thế H c hành vi cho bị cáo đậu xe trước nhà và Bùi Thế H lấy biển số ném vào vách đá sau nhà, nhưng không biết xe mô tô do bị cáo tr m cắp mà c nên C quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là c căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, không đ t ra xem xét.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu trắng đen c chữ Fashion; 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dai 33cm, cán dao dài 11,5cm, trên cán dao c chữ số W806, lưỡi dao dài 21,5cm, lưỡi dao r ng nhất 3,5cm, n i hẹp nhất là mũi dao, trên lưỡi dao c chữ KiWi – BRAND MADE IN THAILAND; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, trước ngực c dòng chữ PRO SPORTS; 01 cái quần thun dài, loại quần thể thao màu đen, hai bên ống quần c 03 sọc trắng. Xét đây là vật chứng không c giá trị, bị cáo không c yêu cầu nhận lại.
Bị cáo không c ý kiến tranh luận.
Lời n i sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Tri Tôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không c người nào c ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên khoảng Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 30-12-2022 bị cáo Nguyễn Văn Hđã c hành vi lén lút lấy tr m 01 xe mô tô biển số 67N7-5834, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ đen, trị giá 6.000.000 đồng của ông Chau T.
[3] Xét thấy, lời khai nhận t i của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại C quan điều tra và cũng phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, cũng như kết luận giám định số 16/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 31-01-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an t nh n Giang. Từ đ , H i đồng xét xử c đủ c sở kết luận: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo Nguyễn Văn Hđã c hành vi lén lút lấy tr m 01 xe mô tô biển số 67N7-5834, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ đen, trị giá 6.000.000 đồng của ông Chau T. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hđã cấu thành t i tr m cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.
[4] Xét về tính chất, mức đ phạm t i của bị cáo thấy rằng: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, muốn có xe để sử dụng, nên bị cáo Nguyễn Văn H đã lợi dụng sự s hở bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy tr m tài sản. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật từ tại địa phư ng, cần xử phạt m t mức án tư ng xứng với hành vi phạm t i của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người c ích cho xã h i và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ của bị cáo H i đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H là người trưởng thành, c đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo không lo làm ăn, lười lao đ ng muốn hưởng thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bản thân. Trước đ , ngày 01-9-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, t nh n Giang quyết định đưa vào c sử cai nghiện bắt bu c với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 17-4-2018; ngày 20-11-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, t nh n Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25-11-2019 chấp hành xong hình phạt tù và nghĩa vụ án phí; ngày 06/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm tù về t i “tr m cắp tài sản”, ngày 28-12-2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành nghĩa vụ dân sự và án phí chưa được x a án tích đến ngày 30-12-2022 bị cáo thực hiện hành vi tr m cắp tài sản, việc này cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, nên cần áp dụng hình phạt tư ng ứng với hành vi phạm t i của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa bị cáo c thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; phạm t i gây thiệt hại không lớn được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự nên H i đồng xét xử c xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng n ng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng n ng theo điểm h khoản 1 quy định tại Điều 52 B luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu c thành phần lao đ ng nghèo, không c nghề nghiệp ổn định nên H i đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với T, Bùi Thế H c hành vi cho bị cáo đậu xe trước nhà và Bùi Thế H lấy biển số ném vào vách đá sau nhà, nhưng không biết xe mô tô do bị cáo tr m cắp mà c nên C quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là c căn cứ.
5 Về tang vật chứng vụ án: Quá trình điều tra C quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô không biển số, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS, màu đỏ đen, số máy 0620168, số khung 015465 và 01 biển số xe mô tô 67N7-5834; 01 đôi dép nhựa màu trắng đen c chữ Fashion;01 cây dao bằng kim loại màu trắng dai 33cm, cán dao dài 11,5cm, trên cán dao có chữ số W806, lưỡi dao dài 21,5cm, lưỡi dao r ng nhất 3,5cm, n i hẹp nhất là mũi dao, trên lưỡi dao c chữ KiWi – BRAND MADE IN THAILAND; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, trước ngực c dòng chữ PRO SPORTS;01 cái quần thun dài, loại quần thể thao màu đen, hai bên ống quần c 03 sọc trắng.
Đối với 01 xe mô tô không biển số, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS, màu đỏ đen, số máy 0620168, số khung 015465 và 01 biển số xe mô tô 67N7-5834 đã xác định được chủ sở hữu nên trả lại cho bị hại là phù hợp.
H i đồng xét xử cần áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng như sau: 01 đôi dép nhựa màu trắng đen c chữ Fashion;01 cây dao bằng kim loại màu trắng dai 33cm, cán dao dài 11,5cm, trên cán dao c chữ số W806, lưỡi dao dài 21,5cm, lưỡi dao r ng nhất 3,5cm, n i hẹp nhất là mũi dao, trên lưỡi dao c chữ KiWi – BRAND MADE IN THAILAND; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, trước ngực c dòng chữ PRO SPORTS;01 cái quần thun dài, loại quần thể thao màu đen, hai bên ống quần c 03 sọc trắng, xét đây là vật chứng không c giá trị, bị cáo không c yêu cầu nhận lại nên tuyên bố tịch thu để tiêu hủy là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường, nên H i đồng xét xử không đ t ra xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 B luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30-12-2022 (ngày ba mư i tháng mười hai năm hai ngàn không trăm hai mư i hai).
Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự.
Tuyên bố tịch thu để tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu trắng đen c chữ Fashion; 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dai 33cm, cán dao dài 11,5cm, trên cán dao c chữ số W806, lưỡi dao dài 21,5cm, lưỡi dao r ng nhất 3,5cm, n i hẹp nhất là mũi dao, trên lưỡi dao c chữ KiWi – BR ND M DE IN TH IL ND; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, trước ngực c dòng chữ PRO SPORTS;01 cái quần thun dài, loại quần thể thao màu đen, hai bên ống quần c 03 sọc trắng.
(Toàn b tang vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27-3-2023).
Căn cứ vào Điều 136 B luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Bị cáo Nguyễn Văn Hphải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự s th m.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan c quyền kháng cáo. Đư ng sự vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án ho c được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, từ nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tri Tôn (2); - T ND t nh n Giang (1); - Sở Tư pháp t nh n Giang (1); - C quan TH HS, HTTP (2); - Phòng hồ s (1); - Chi cục TH DS huyện Tri Tôn (1); - B phận TH HS Tòa án (1); - Bị cáo; - Đư ng sự; - Lưu hồ s , - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Nữ Ngọc Lan |