vanban.org

Bản án 13/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại 31.775.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), đã nộp 10.000.000 đồng tại Biên lai số 000871 ngày 21/02/2023 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐH
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HSST
Ngày: 15/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐH, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thư – Cán bộ hưu trí

Ông Ngô Đình Quốc – Nguyên Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm y tế thị xã ĐH

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Thiện Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐH tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/4/1979; Nơi sinh: Tỉnh Phú Yên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 03/12; Họ và tên cha: Nguyễn P, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Mai Thị Đ (Chết); Vợ: Hồ Thị Tuyết H, sinh năm 1980; Có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 02/02/2023.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Nguyễn Thái Ng, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố xx, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên; Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hồ Thị Tuyết H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Hồ Quy Th, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1994; nơi cư trú: khu phố MH, phường HHB, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Hồ Quốc Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn D, sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn Phú Lương, xã Hoà Tân

Đông, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

4.Trần Thanh Th, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2020, Lê Hồ Quy Th mượn Nguyễn Thái Ng 4.000.000 đồng nhưng chưa trả. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/01/2022, Ngh đến nhà Th ở Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH đòi nợ. Ngh vào trong sân la lớn tiếng yêu cầu Th trả nợ thì gặp Hồ Thị Tuyết H (mẹ ruột Th), giữa Ngh và H xảy ra cãi vả, giằng co nhau, Ngh đá trúng chân H nhưng không gây thương tích. Lúc này, Nguyễn Văn L (chồng H, cha dượng Th) đang ăn cơm trong nhà nghe tiếng cãi nhau nên cầm chén sứ ăn cơm (chén màu trắng có H văn màu xanh, đường kính miệng chén khoảng 10cm, cao khoảng 05cm) ra trước sân nói chuyện với Ngh. Thấy H bị té ngã, cho rằng Ngh đánh H nên L dùng chén sứ đánh 01 nhát trúng vào vùng mặt bên trái Ngh gây thương tích.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 105 ngày 05/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyễn Thái Ng bị thương tích 12%, do vật có cạnh gây nên.

(Tại các bút lục số: 68-69; 112-119; 195-205; 249-254; 265-270).

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Thái Ng 10.000.000 đồng khắc phục hậu quả (giao nộp tại Chi cục THADS thị xã ĐH); nguyên nhân L phạm tội có phần lỗi của bị hại.

Vật chứng vụ án tạm giữ: 05 mảnh vỡ bằng sứ màu trắng có H văn màu xanh, không rõ hình dạng kích thước do bị can Nguyễn Văn L giao nộp. L khai là mảnh vỡ của hung khí đã dùng gây án.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thái Ng yêu cầu bồi thường 31.775.000 đồng. Gia đình bị can Nguyễn Văn L đã bồi thường 10.000.000 đồng (giao nộp tại Chi cục THADS thị xã ĐH).

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-ĐH ngày 23/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐH đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận diễn biến vụ án như nội dung Cáo trạng, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Về dân sự bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ chi phí điều trị theo yêu cầu của bị hại là 31.775.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Thái Ng trình bày: Sau khi sự việc xảy ra anh đã điều trị tổng chi phí là 31.775.000 đồng, quá trình điều tra anh đã nộp các chứng từ tại cơ quan cảnh sát điều tra. Từ trước đến nay anh chưa nhận được khoản tiền bồi thường nào từ bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay anh vẫn yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền đã chi phí theo yêu cầu tại cơ quan công an là 31.775.000 đồng.

Về hình sự anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị Tuyết H trình bày: Bà là vợ của bị cáo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo L có bảo bồi thường cho em nó (tức là Nguyễn Thái Ng) chi phí điều trị nhưng kinh tế gia đình khó khăn chưa bồi thường kịp thời, khi xoay xở được tiền thì bị hại đã đi làm xa không gặp được nên bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH để khắc phục hậu quả cho bị cáo. Bà tự nguyện bồi thường nên không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐH thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại cáo trạng số 10/CT-VKSĐH ngày 23 tháng 02 năm 2023 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại 31.775.000 đồng. Đã nộp 10.000.000 đồng tại Biên lai số 000871 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH nên còn phải bồi thường tiếp 21.775.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 05 mảnh vỡ chén sứ được niêm phong dán kín, mã số 1915748 theo biên bản giao, nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/02/2023 vì không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐH, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và kết quả điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định phù hợp về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/01/2022, tại Khu phố x, phường HV, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Văn L đã có hành vi dùng chén sứ kích thước khoảng 10 x 05cm là hung khí nguy hiểm đánh trúng vùng mặt và thái dương trái của Nguyễn Thái Ng gây thương tích 12%.

Chén sứ là hung khí nguy hiểm, gây tổn hại sức khỏe cho bị hại 12% nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng số 10/CT-VKSĐH ngày 23/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐH truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Với tính chất, hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm thân thể của người khác, coi thường pháp luật nên phải xem xét mức hình phạt tương xứng với tính chất và hậu quả do bị cáo gây ra, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có một phần lỗi của bị hại, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường để khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định mức phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo thấy được sự kHn hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại 31.775.000 đồng, đã nộp 10.000.000 đồng tại Biên lai số 000871 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả nên còn phải bồi thường tiếp 21.775.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 05 mảnh vỡ chén sứ được niêm phong dán kín, mã số 1915748 theo biên bản giao, nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐH với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.088.750 đồng làm tròn là 1.089.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại 31.775.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), đã nộp 10.000.000 đồng tại Biên lai số 000871 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH nên còn phải bồi thường tiếp 21.775.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 05 mảnh vỡ chén sứ được niêm phong dán kín, mã số 1915748 theo biên bản giao, nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐH với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐH vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.089.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ