- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 10-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Hiền và bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 17/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 30/01/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, giới tính: Nam; sinh năm 1984 tại TP. Quy Nhơn, Bình Định; Nơi cư trú: số X đường T, phường L, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Số Y đường L, phường Đ, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn D, sinh năm 1938 và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1943; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/02/2019 bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 05/10/2019.
Ngày 22/5/2020 bị Công an TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Chị Trảo Thị Phương N, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: số X đường H, phường Đ, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 26/10/2022, Phạm Văn T điều khiển xe đạp điện đi ngang qua tiệm buôn bán phế liệu của chị Trảo Thị Phương N tại số X đường H thuộc phường Đ, TP. Quy Nhơn thì thấy cửa mở, không ai trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. T dừng xe rồi đi vào trong nhà thì thấy chị N đang nằm ngủ trên giường, dưới đất bên cạnh giường có để 01 túi xách nên T đến gần lén lấy túi xách rồi ra xe bỏ đi. Đi được một đoạn thì T dừng lại mở túi xách ra kiểm tra thấy có 01 điện thoại di động và số tiền 14.738.000 đồng. T vứt túi xách còn tiền và điện thoại thì đem về nhà cất giấu. Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 17/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh dương, bàn phím màu đen, đã qua sự dụng, trị giá: 100.000 đồng.
- 01 túi xách chất liệu vải màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá 50.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là: 150.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tạm giữ 01 điện thoại động hiệu Nokia 105, số tiền 14.738.000 đồng và đã trả lại cho Trảo Thị Phương N; tạm giữ 01 xe đạp điện hiệu YAMAHA, 01 áo thun loại thể thao ngắn tay, 01 quần tây dài màu xanh đen của Phạm Văn T.
Về dân sự: Chị Trảo Thị Phương N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSQN ngày 16/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn T theo Cáo trạng.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết
Xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo 01 xe đạp điện hiệu Yamaha; đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun và 01 quần tây dài của bị cáo hiện không còn giá trị.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Phạm Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Phạm Văn T xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào khoảng 14 giờ ngày 26/10/2022, bị cáo Phạm Văn T lẻn vào nhà số X đường H, phường Đ, TP. Quy Nhơn lén lút chiếm đoạt của chị Trảo Thị Phương N 01 túi xách (trị giá 50.000 đồng) bên trong có số tiền 14.738.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia (trị giá 100.000 đồng), tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.888.000 đồng.
Bị cáo Phạm Văn T có đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo đã bị Tòa án đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện trở thành công dân tốt. Do tham lam, xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài mà không chịu lao động chân chính, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Trảo Thị Phương N có tổng trị giá 14.888.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:
5.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
5.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
5.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Trảo Thị Phương N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 xe đạp điện, 01 áo thun và 01 quần tây dài màu xanh đen. Xét thấy, các tài sản thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên đối với quần, áo hiện đã cũ bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy quần, áo nói trên.
Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. luật
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3. Xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo: 01 xe đạp điện hiệu Yamaha màu tím đen, có giỏ màu trắng, không có biển số, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 áo thun loại thể thao ngắn tay, mặt áo trước có màu tím - trắng - đỏ có dòng chữ in ở giữa áo “FLY EMIRATES”, phía trước ngực bên trái có logo tròn in dòng chữ “PARIS-SAINT GERMAIN” có hình màu xanh - trắng - đỏ, đã qua sử dụng.
+ 01 quần tây dài, màu xanh đen, kiểu dáng lưng quần có cài nút, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.
4. Án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Ngô Đình Hƣng |