vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 và khoản 1 điều 47 của BLHS đối với bị cáo Dương Văn D;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn D 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Duy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 và khoản 1 điều 47 của BLHS đối với bị cáo Dương Văn D;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/ HS-ST
Ngày 17-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam và bà Lương Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Phạm Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện thành phố Sông Công gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 bằng hình thức trực tuyến, trong đó 01 điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, 01 điểm cầu thành phần tại Công an thành phố Sông Công, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Văn D, sinh ngày: 29/02/2000, tại Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn Q - Sinh năm: 1974 và bà: Dương Thị N sinh năm: 1974. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là: Tòng Thị M, sinh năm: 2000 và 01 con sinh năm 2021;

Tiền án, ttền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2022 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn D: Bà Nguyễn Ngọc Q - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank);

Địa chỉ: 89 Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank): Anh Trần Tuấn K và anh Trần Đ- Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ VPBank (Theo các văn bản ủy quyền ngày 11/01/2023 và ngày 15/3/2023).

(Anh K, anh Đ có mặt tại phiên tòa).

2. Chị Tòng Thị M, sinh ngày: 08/3/2000 (Là vợ bị cáo Dương Văn D);

Nơi cư trú: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Ngƣời chứng kiến:

- Ông Trần Hoài Th, sinh năm 1971;

Nơi cư trú: Tổ 10, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

- Chị Trần Thị N, sinh năm 1998;

Nơi cư trú: Phòng 16C8, tòa nhà A4, chung cư Tiến Bộ, thuộc tổ 8, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

*. Ngƣơi tham gia tố tụng khác: Ông Lê Tiến D - Cán bộ nhà tạm giữ

Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại điểm cầu Công an thành phố Sông Công)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 45 phút ngày 13/10/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một nam thanh niên điều khiển xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, sơn màu trắng, biển kiểm soát (BKS): 20A – 550.78 chở một người phụ nữ dừng đang đỗ xe ở lề đường Quốc lộ 37 thuộc tổ dân phố Trước, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên có hành vi cất giấu ma túy với số lượng lớn. Tiến hành xác minh, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải D đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 20 viên nén màu nâu (D khai nhận là ma túy tổng hợp “thuốc lắc” do D nhận vận chuyển thuê), ngoài ra còn thu giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SXmax, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, sơn màu trắng, BKS: 20A-550.78; Số tiền 10.000.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng B2 đều mang tên Dương Văn D; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 20A-550.78; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng VPBank cấp cho xe ô tô BKS: 20A-550.78; 01 giấy chứng nhận kiểm định cấp cho xe ô tô BKS: 20A-550.78; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô BKS: 20A-550.78. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa đối tượng D về trụ sở Công an để làm việc, sau đó chuyển hồ sơ và đối tượng về Công an thành phố Sông Công giải quyết theo quy định.

Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu giám định số viên nén thu giữ của Dương Văn D. Tại bản kết luận giám định số 1642/KL-KTHS ngày 22/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Các viên nén màu nâu thu giữ của Dương Văn D là chất ma túy, loại MDMA có tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 10,32 gam.

Tại Cơ quan điều tra Dương Văn D khai nhận như sau: Khoảng 15 giờ 00 ngày 13/10/2022, tại khu vực cổng trường THCS Quang Vinh thuộc phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, D được một người nam giới tự giới thiệu tên là Thiên (D không rõ lai lịch và địa chỉ) đặt vấn đề thuê D vận chuyển 20 viên ma túy tổng hợp "Thuốc lắc" đến khu vực nhà nghỉ Sông Công 2, thuộc tổ dân phố (TDP) Trước, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên để giao cho khách của Thiên và nhận số tiền của khách trả là 5.000.000 đồng, Thiên trả công cho D số tiền là 300.000 đồng, D đồng ý. Thiên đưa cho D một túi nilon bên trong chứa 20 viên ma túy tổng hợp “thuốc lắc”, D nhận số ma túy rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, D quay về phòng 16C8, tòa nhà A4, chung cư Tiến Bộ thuộc tổ 8, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên rủ Trần Thị Nga cùng đi (D không nói cho Nga biết việc đi vận chuyển ma túy), Nga đồng ý, rồi D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI ACCENT, BKS: 20A-550.78 chở theo Nga cùng đến điểm hẹn. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày D và Nga đang dừng đỗ xe ở lề đường Quốc lộ 3 đoạn trước cửa nhà nghỉ Sông Công 2, thuộc TDP Trước, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSSC, ngày 01-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Văn D về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, theo điểm h khoản 2 Điều 250 của BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, bị cáo Dương Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy, vì bị cáo đã có hành vi vận chuyển trái phép 20 viên thuốc lắc loại MDMA có tổng khối lượng là 10,32 gam.

Đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn D phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS; xử phạt bị cáo Dương Văn D từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS:

+ Giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, BKS 20A - 550.78 và Giấy chứng nhận kiểm định số 1145033 cấp cho chiếc xe ô tô BKS 20A - 550.78 cho Chi cục THADS thành phố Sông Công phối hợp với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) xử lý bán đấu giá tài sản để Ngân hàng TMCP Việt nam thịnh Vượng thu hồi nợ vay theo quy định; phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu 1/2 nộp vào ngân sách nhà nước, còn lại trả lại cho chị Tòng Thị Mây;

+ Tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu L, G;

- Trả lại cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphne XSmax màu đen đã qua sử dụng.

Về án phí: Miễn nộp án phí HSST cho bị cáo theo quy định pháp luật (Bị cáo thuộc hộ cận nghèo).

Bị cáo Dương Văn D không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến bào chữa được tóm tắt như sau:

- Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy, là đúng người, đúng tội, không oan.

- Về hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay (con còn nhỏ…) xử phạt bị cáo 08 năm 06 tháng tù là phù hợp để cho bị cáo sớm trở về với gia đình để nuôi dưỡng con nhỏ.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn phạt bổ sung và án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí ý kiến luận cứ của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Tòng Thị Mây có ý kiến: Nhất trí đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đồng ý giao chiếc xe ô tô cho Chi cục THADS bán đấu giá để thu hồi trả nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ hợp đồng thế chấp tài sản và các quy định của pháp luật đề nghị giao chiếc xe trên cho Ngân hàng để thu hồi nợ cho theo quy định.

Qua đối đáp đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Căn cứ các quy định của pháp luật, xác định không có căn cứ chấp nhận về đề nghị nêu trên của đại diện ngân hàng, giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, tranh luận, đối đáp gì thêm.

Khi được nói lời sau cùng bị cáo Dương Văn D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Vì mục đích vụ lợi, ngày 13/10/2022, bị cáo Dương Văn D đã thực hiện hành vi vận chuyển thuê 20 viên nén màu nâu, qua giám định là ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 10,32 gam bằng xe ô tô từ địa phận phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên đến khu vực phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên giao cho khách với tiền công 300.000 đồng. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo vận chuyển MDMA đến trước cửa nhà nghỉ Sông Công 2, thuộc Tổ dân phố Trước, phường Lương Sơn (chưa kịp giao cho khách) thì bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang đối với Dương Văn D và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi vận chuyển chất ma túy là bất hợp pháp và trái pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên bị cáo vẫn thực hiện tội phạmvới lỗi cố ý. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản điểm h khoản 2 Điều 250 của BLHS. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về Tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của Pháp luật.

Nội dung của Điều 250 của BLHS quy định:

1.Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất. mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy ….thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

h)... MDMA ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng...

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước,. Hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguyên nhân sâu xa dẫn đến các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nhưng vì vụ lợi bất chính, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, phạm tội với khối lượng ma túy tương đối lớn (10,32 gam), vì vậy dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy gia đình bị cáo D là hộ cận nghèo ở địa phương, bị cáo phạm tội nhưng chưa được hưởng lợi, vợ chồng bị cáo hiện đang nợ Ngân hàng một khoản tiền lớn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau:

- Các bì niêm phong ký hiệu L, G bên trong có chứa ma túy, mẫu được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

- Đối với số tiền 10.000.000 đồng và chiếc điện thoại Iphone XSmax đã thu giữ là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.

- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, BKS 20A - 550.78 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô này làm phương tiện phạm tội (Vợ bị cáo không biết việc bị cáo dùng chiếc xe này vận chuyển trái phép chất ma túy). Đáng lẽ ra, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước 1/2 chiếc xe theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuy nhiên chiếc xe ô tô này hiện đang được vợ chồng bị cáo thế chấp đảm bảo khoản vay nợ của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và hợp đồng thế chấp là hợp pháp, đã đăng ký thế chấp theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Tòng Thị Mây (Vợ bị cáo) cũng nhất trí giao chiếc xe ô tô nói trên cho cơ quan có thẩm quyền xử lý bán đấu giá thu hồi nợ cho Ngân hàng. Do đó để đảm bảo quyền lợi chính đáng của Ngân hàng, cần giao cho Chi cục THADS thành phố Sông Công phối hợp với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng xử lý bán đấu giá chiếc xe ô tô nói trên để Ngân hàng thu hồi nợ vay; phần giá trị còn lại (Nếu có) tịch thu 1/2 nộp vào ngân sách nhà nước, trả lại cho chị Tòng Thị Mây 1/2 phần giá trị còn lại.

- Đối với Giấy chứng nhận kiểm định số 1145033 cấp cho chiếc xe ô tô BKS 20A - 550.78 cần giao cho chi cục THADS thành phố Sông Công xử lý khi đấu giá chiếc xe ô tô nói trên.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội, ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, kiến của bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận. Về ý kiến của đại diện Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đề nghị giao chiếc xe ô tô BKS 20A - 550.78 cho Ngân hàng để thu hồi nợ, xét thấy không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.

Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

Về nguồn gốc số ma túy (MDMA) bị thu giữ, bị cáo Dương Văn D khai nhận của một người đàn ông tên Thiên thuê bị cáo vận chuyển để giao cho khách, nhưng D không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và bị cáo cũng có đơn xin miễn nộp án phí, do đó cần áp dụng Điều 12 và 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn nộp án phí cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án trong hạn Luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 và khoản 1 điều 47 của BLHS đối với bị cáo Dương Văn D;

- Các Điều 106, 136, 329,331 và Điều 333 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn D 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/10/2022.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 250 của BLHS.

4.Ra Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn D với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5.Về xử lý vật chứng vụ án như sau:

- Giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu sơn trắng BKS 20A - 550.78 và Giấy chứng nhận kiểm định số 1145033 cấp cho chiếc xe ô tô BKS 20A

- 550.78 cho Chi cục THADS thành phố Sông Công phối hợp với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) xử lý bán đấu giá tài sản để Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng thu hồi nợ vay theo quy định; phần giá trị còn lại (Nếu có) xử lý như sau: tịch thu 1/2 nộp vào ngân sách nhà nước, 1/2 trả lại cho chị Tòng Thị Mây. (Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2201205131626 ngày 09/02/2022) và phiếu yêu cầu dăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 09/02/2022);

- Tịch thu tiêu hủy các bì niêm phong sau đây: 01 bì niêm phong ký hiệu L chứa 17 viên nén có tổng khối lượng 8,82 gam và vỏ túi nilon; 01 bì niêm phong ký hiệu G chứa 1,343 gam mẫu G còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu G;

- Trả lại cho bị cáo Dương Văn D số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphne XSmax, màu đen đã qua sử dụng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu D2).

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2023 và giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố Sông Công và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công tại Kho bạc nhà nước Sông Công ngày 06/3/2023).

5. Về án phí: Miễn nộp án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn D theo quy định pháp luật.

6.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Chị Tòng Thị M và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - VPBank) có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày(Mười lăm) kể từ ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ