- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 28/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Thẩm phán:
Ông Trần Hữu Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Kim Hồng
Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Ông Phạm Công Định.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/HSST- QĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Kh sinh năm 1991
Nơi cư trú: KDC KX, phường AS, thị xã KM , tỉnh Hải Dương
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hòa 9/12
Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị M; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 126 ngày 28/9/2009 của Công an huyện Kinh Môn, xử phạt 150.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 117 ngày 20/10/2010, Công an huyện Kinh Môn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh người gây thương. Bị can chưa chấp hành do Công an thị xã Kinh Môn không đôn đốc, cưỡng chế thi hành đối với Nguyễn Văn Kh; Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 1022 ngày 27/04/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương đưa Nguyễn Văn Kh vào cơ sở giáo dục Thanh Hà, Tổng cục VIII. Chấp hành xong ngày 30/4/2012; Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường số 08 ngày 10/3/2018 của UBND xã Anh Sinh đối với Nguyễn Văn Kh có hành vi: ngày 08/12/2017, chửi bới đe doạ bà M; ngày 24/12/2017 có hành bắt bà M ôm bình ga doạ đốt; ngày 18/2/2018 có hành vi đánh đập bà M; Quyết định tiếp nhận người vào cai nghiện, chữa trị bắt buộc số 212 ngày 15/3/2018 của Sở lao động, thương binh xã hội tỉnh Hải Dương đối với Nguyễn Văn Kh, thời hạn 12 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Hải Dương. Bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Trung K- Luật sư, Văn phòng luật sư AĐ thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; Địa chỉ: HQ, thành phố HD tỉnh Hải Dương. Có mặt.
Người giám hộ cho bị cáo: Ông Trần Văn Đ – Cán bộ tư pháp phường AS, thị xã KM, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1955; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: KDC KX, phường AS, thị xã KM , tỉnh Hải Dương (đã chết); Người đại diện theo pháp luật: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989. Quê quán: KDC KX, phường AS, thị xã KM , tỉnh Hải Dương. Địa chỉ: KDC PS, phường AL, thị xã KM, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Ông Nguyễn Đình Kh, sinh năm 1973. Địa chỉ: KDC KX, phường AS, thị xã KM , tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Người làm chứng: Các ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1955, Nguyễn Đình T, sinh năm 1971 (Có mặt); Các anh Nguyễn Tiến Tg, sinh năm 1993, Nguyễn Kim C, sinh năm 1988, Nguyễn Văn B, sinh năm 1996; Các bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967, Nguyễn Thị Hg, sinh năm 1958 (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Kh sinh sống, ở cùng nhà với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị M. Quá trình ở cùng thời gian trước đây, K thường xuyên chửi bới, bạo lực, đánh đập bà M. Trưa ngày 20/05/2022, K đi đám cưới bạn ở thị trấn PT, huyện KT có sử dụng rượu bia, ăn uống xong K được anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1996, trú tại phường LX, thị xã KM chở về nhà, trên đường về, K và anh B vào quán nước rìa đường uống nước, tại đây K tiếp tục uống bia, sau đó anh B chở K về nhà. Đến khoảng 16 giờ ngày 20/05/2022 khi về đến nhà, K thấy bà M ở trong nhà đã chửi và đe dọa đánh bà M. Thấy vậy, bà M chống gậy gỗ (hàng ngày sử dụng 02 chiếc gậy gỗ chống để đi lại) đi ra khu vực cửa nhà bếp thì K đi theo dùng tay phải giằng được chiếc gậy từ tay trái bà M, làm cho bà M ngã sấp người xuống nền sân bê tông. Khi bà M đứng dậy thì K đứng ngang với bà M, cách khoảng 50cm, K cầm gậy gỗ bằng tay phải dơ lên cao vụt 01 cái từ trên xuống dưới trúng vào đỉnh đầu bên phải bà M làm rách da, chảy máu, sau đó tiếp tục dùng chân, tay, gậy đánh làm bà M bị thương, bà M được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế phường An Sinh, Trung tâm y tế thị xã Kinh Môn, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương điều trị đến ngày 30/5/2022 ra viện về nhà. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 24/6/2022, ông Nguyễn Đình B sinh năm 1955, trú tại: KX4, phường AS, thị xã KM đến nhà bà M để mua hộ thức ăn thì phát hiện bà M nằm chết dưới nền nhà tại gian phòng khách, nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị M là do chấn thương sọ não không hồi phục.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/5/2022 tại gia đình bà Nguyễn Thị M, thể hiện: Nhà ở gia đình bà M là nhà mái bằng gồm 02 gian có diện tích 60m2 gồm, 01 gian phòng khách hướng Đông Bắc, 01 gian phòng ngủ phía Đông Nam, nhà có cửa chính ra vào hướng Đông Bắc, phía trước cửa chính là mảnh sân được láng bằng xi măng; tiếp đến là cổng vào; tiếp giáp với cổng vào là đường bê tông liên khu dân cư thuộc KX4 - AS. Tiếp giáp với gian phòng ngủ về phía Bắc là gian phòng bếp, gian bếp có cửa chính quay cùng hướng Đông Bắc, trước cửa bếp là mảnh sân láng xi măng bằng phẳng, phía trên lợp tôn. Cách bức tường phía Đông Bắc của gian bếp 1,9m và cách bức tường phía Tây Bắc gian phòng ngủ 2,3m là vị trí đám máu dạng loang tại sân trước cửa bếp. Đám máu có kích thước (30 x25)cm là dấu vết 1. Cách dấu vết (1) 6,4m về hướng Bắc theo lối đi từ cửa bếp ra ngoài cổng và cách cửa chính gian phòng khách 2,5 m về phía Bắc là vị trí dấu vết máu dạng nhỏ giọt trên diện (20 x10)cm là dấu vết 2. Từ vị trí dấu vết 2 ra ngoài cổng có nhiều dấu vết máu dạng nhỏ giọt hình chấm. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/6/2022 tại gia đình bà Nguyễn Thị M, thể hiện: Nơi phát hiện ra sự việc là nhà ở của gia đình bà Nguyễn Thị M. Tại thời điểm khám nghiệm cửa ở trong trạng thái đóng, phía Tây Bắc là lối vào khu vực bếp, tại thời điểm khám nghiệm cửa bếp trạng thái mở, cửa bếp hướng Đông Bắc. Hướng Đông Nam bàn thờ tổ tiên kê sát bức tường phía Nam gian phòng khách còn có một cửa ra vào hướng Đông Nam, cửa cài then ngang, bên ngoài khóa bằng khóe treo. Cạnh vị trí cửa hướng Đông Nam là chiếc đệm mút kích thước (1,9 x1,45)m, được gập làm 03 tấm chồng lên nhau, phía trên đệm là vị trí chiếc màn chụp chèn màn trắng và chiếc áo màu đen. Cạnh chiếc đệm gấp là vị trí tử thi bà Nguyễn Thị M nằm tư thế nghiêng trái trên nền nhà, đầu nạn nhân hướng Đông Bắc, mặt hướng Tây, tay phải duỗi hướng lên qua đầu, tay trái duỗi xuống, chân phải co, chân trái duỗi, gót chân trái nạn nhân cách cửa thông phòng với gian buồng 1,1m, cách cửa hướng Đông Nam 1,4m, đầu nạn nhân cách chiếc ghế đơn (ghế gỗ) 18cm. Ở giữa vị trí đầu nạn nhân với chiếc ghế đơn là 2 chiếc gậy gỗ nằm song song cạnh nhau, gậy chiều dài 90cm, đường kính 1,5cm. Tại vị trí đầu nạn nhân có máu chảy ra, dưới mông có phân màu nâu xẫm nằm rải rác trên diện (80 x40)cm. Đồ đạc trong phòng không phát hiện có dấu hiệu lục soát. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 20/5/2022, của Trạm y tế phường An Sinh, thể hiện: Bà Nguyễn Thị M, vào trạm 18 giờ 20 phút ngày 20/5/2022; ra trạm lúc 19 giờ 50 phút ngày 20/5/2022. Tại vùng đỉnh thái dương bên phải (P) có vết thương dài khoảng 5cm, rộng 0,5cm, bầm dập đang chảy máu; tại vùng ức cổ có 01 vết thương trầy da bầm tím chảy dỉ máu; vùng mu bàn tay (T) thấy lợt da rỉ máu; vùng 1/3 trên cẳng chân (P) có một vết thương cũ khoảng 03cm viêm tấy đỏ; trên da vùng 02 cẳng tay, 02 cẳng chân đều có vết bầm tím. Chuẩn đoán: Chấn thương vùng đỉnh thái dương (P). Chấn thương sọ não. Tại bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế thị xã Kinh Môn ngày 20/5/2022, thể hiện: Bà Nguyễn Thị M vào viện 21 giờ 11 phút ngày 20/5/2022; ra viện hồi 21 giờ 40 ngày 20/5/2022. Vết thương sọ não hở do bị đánh. Chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Tại bệnh án ngoại của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương ngày 30/5/2022, thể hiện: Bà Nguyễn Thị M vào viện 23 giờ ngày 20/5/2022, ra viện ngày 30/5/2022. Cấp cứu: Vết thương vùng thái dương đỉnh phải
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 1566/TgT ngày 22/5/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hải Dương kết luận thương tích của bà Nguyễn Thị M: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não gây vỡ lún xương thái dương đỉnh phải, chảy máu màng mềm, tụ máu nhu mô não. Hiện đang điều trị tại khoa ngoại II, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Vết xây xát, sưng nề, bầm tím vùng cổ, mu bàn tay hai bên, cẳng chân phải, các tổn thương này (Không phần trăm). Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, bà M bị người khác dùng gậy gỗ như Công an thị xã Kinh Môn mô tả đánh gây nên là phù hợp. Hiện bệnh nhân đang điều trị, chưa đánh giá được di chứng của chấn thương sọ não, đề nghị khi nào Bệnh nhân ra viện thì đưa Bệnh nhân đi giám định bổ sung. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 24%. Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 201/TgT ngày 30/6/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hải Dương kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị M; Dấu hiệu chính qua giám định: Tử thi trong tình trạng phân hủy nhẹ. Sẹo cũ vùng đỉnh phải đã được rút chỉ liền sẹo tốt. Vỡ xương hộp sọ tương ứng vị trí sẹo phía ngoài. Tụ máu màng cứng, não phù, xung huyết. Tụ máu màng mềm lan tỏa vùng đỉnh, thái dương, trán phải. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não không hồi phục (vỡ xương vòm sọ, tụ máu não, phù não). Thời gian chết của bà Nguyễn Thị M đến thời điểm khám nghiệm khoảng trên 24 giờ là phù hợp. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 356/KLGĐ ngày 22/11/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương, Bộ y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Nguyễn Văn Kh có hội chứng nghiện nhiều loại ma tuý. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F19.2. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSHD- P2 ngày 27/12/2022, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Kh về tội tội “Giết người” theo quy định tại điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Giết người”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 18 đến 19 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 22/5/2022. Ngoài ra còn đề nghị xem xét giải quyết về vật chứng và tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo, ông Trần Trung Kn trình bày: Nhất trí về tội danh, điều khoản Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo K; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc đến điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, được chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
Bị cáo Nguyễn Văn Kh khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người giám hộ cho bị cáo: Ông Trần Văn Đ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, ông Nguyễn Đình Kh: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo theo đúng nguyện vọng của bà M trước khi chết. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Lời khai của người bị hại, những người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Giấy chứng nhận thương tích của bà M ngày 20/5/2022; Kết luận giám định pháp y về tử thi; Kết luận giám định pháp y về thương tích; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ ngày 20/5/2022, tại nhà ở của K, địa chỉ khu dân cư Kim Xuyên 4, phường AS, thị xã KM, tỉnh Hải Dương, K đã có hành vi dùng 01 chiếc gậy gỗ có hình trụ tròn dài khoảng 87cm, đường kính 02 đến 2,5cm đánh vào đầu vùng thái dương đỉnh phải làm bà M bị thương tích ở đầu, đến ngày 24/6/2022 thì tử vong do chấn thương sọ não không hồi phục.
Hành vi của bị cáo K đã thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác là khách thể được Luật hình sự bảo vệ. Trước đó, trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2022 bị cáo thường xuyên chửi bới, đánh đập mẹ của mình, đã bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa. Ngày 20/05/2022, tuy không có lý do gì chỉ vì nghĩ bà M không cho bị cáo tiền bán đất và cho rằng bà M đã cho bị cáo đi cai nghiện ma túy trước đó. Sau khi uống rượu, bia về bị cáo đã chửi bới, đe dọa đánh bà M, giằng chiếc gậy gỗ bà M đang dùng đánh một nhát vào đầu của bà M, làm bà M bị Chấn thương sọ não. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc bà M chết vào ngày 24/6/2022. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, nạn nhân là người già yếu, là mẹ đẻ của bị cáo.
Về năng lực chịu trách nhiệm hình sự: Bị cáo K nằm trong danh sách quản lý đối tượng nghiện ma túy của công phường AS, thị xã KM, tỉnh Hải Dương từ năm 2014 và được đưa vào diện quản lý “Người sử dụng ma túy có biểu hiện loạn thần ngáo đá xâm phạm trật tự xã hội tại địa phương”. Tại khu dân cư Kim Xuyên 4, phường AS, thị xã KM, bị cáo nằm trong diện: “Đối tượng thần kinh, ngáo đá tại địa phương”. Tuy có biểu hiện nhưng bị cáo chưa được đi điều trị ở đâu, không được cấp phát thuốc gì về bệnh tâm thần kinh. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 356/KLGĐ ngày 22/11/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương, Bộ y tế kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Văn Kh có hội chứng nghiện nhiều loại ma tuý. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F19.2. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Do đó thấy rằng bị cáo K là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi bị cáo K thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp “Giết mẹ của mình” và “Có tính chất côn đồ” theo các điểm đ, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình Sự nên việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo K là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản, Cố ý gây thương tích. Thực tế bị cáo K đã nhiều lần đánh đập, hành hạ bà M trong khoảng thời gian dài và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường vì có những hành vi: Chửi bới đe doạ bà M; Bắt bà M ôm bình ga doạ đốt; Đánh đập bà M. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc phạm tội; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; theo kết luận giám định tâm thần kết luận bị cáo là người có bệnh có mã số F19.2 nên bị cáo K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, qua đó Hội đồng xét xử xem xét, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; Hành vi bị cáo thực hiện thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, tính mạng người khác, vi phạm nghiêm trọng đạo đức của con cái đối với cha mẹ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thị xã Kinh Môn nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo K khỏi xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa làm rõ, đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì dân sự nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh gậy gỗ, hình trụ tròn, dài 87cm, đường kính 2 đến 2,5cm, thân gậy mầu nâu, trên thân gậy có vết dính màu nâu thẫm trên diện (21x3) cm và 01 thanh gậy bằng gỗ hình trụ tròn, dài 86,5cm, đường kính 2,5cm; đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97 năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm đ, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 39; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 năm 7 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh Tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 22/5/2022.
3. Về xử lý vật chứng, xử: Tịch thu, cho tiêu hủy 01 thanh gậy gỗ, hình trụ tròn, dài 87cm, đường kính 2 đến 2,5cm; 01 thanh gậy bằng gỗ hình trụ tròn, dài 86,5cm, đường kính 2,5cm (Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 10/01/2023)
4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu Tòa; Lưu HS vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Tuyết |