- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 18/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Kim Dung
Bà Tạ Thị Thà
- Thƣ ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 399/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn L, sinh năm 1981; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: xóm 13, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: số 7, ngõ 48/62 N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn C (sinh năm 1958) và bà: Đinh Thị M (sinh năm 1960); Có vợ là: Trần Thị L1 (sinh năm 1986, đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Danh chỉ bản số 646, lập ngày 15/11/2022 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án sơ thẩm số 42/2014/HSST ngày 26/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2016 (chưa được xóa án tích); Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 23/2012/HSST ngày 27/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2014 (đã được xóa án tích).
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thái Liễu N, sinh năm 1964; Nơi cư trú: số 1, ngõ 01, phố B, tổ 10, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Văn S, sinh năm 1975; Nơi cư trú: xóm 3, thôn 3, xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 13/5/2022, Phạm Văn L điều khiển xe máy kiểu dáng xe Wave mang biển kiểm soát 17K7-7932, đến mua hoa quả tại cửa hàng của bà Nguyễn Thái Liễu N ở khu vực đối diện số nhà 18, ngõ 1, phố B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Trong khi bà N chọn hoa quả để bán, L quan sát thấy chỉ có một mình bà N trông cửa hàng và nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam-sung Galaxy A12 màu xanh của bà N để trên bàn bên cạnh. L tiếp tục yêu cầu bà N chọn để L mua thêm hoa quả, rồi lợi dụng khi bà N không để ý, L lấy chiếc điện thoại nêu trên của bà N cất giấu vào túi quần bên trái và phóng xe máy bỏ đi. Bà N nghi ngờ nên kiểm tra thấy bị mất chiếc điện thoại để trên bàn và kiểm tra máy ghi hình tại cửa hàng thấy lưu lại đoạn hình ảnh L lấy điện thoại. Tiếp đó, đến khoảng 16 giờ ngày 01/6/2022, bà N nhìn thấy đối tượng nam giới đi xe máy biển kiểm soát 17K7-7932 tại phố Đại Từ có đặc điểm giống đối tượng đã trộm cắp tài sản của mình nên đã trình báo cơ quan công an đến kiểm tra và xác định được đối tượng nghi vấn là Phạm Văn L nên đưa L về trụ sở, bàn giao cho cơ quan điều tra để xác minh làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngoài ra, L khai nhận: Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại của bà N, L mang về phòng trọ tại số 72, ngõ 18 Định Công Thượng, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội để cất giấu. Sau đó L tháo chiếc sim có số thuê bao 0373275297 lắp trong chiếc điện thoại chiếm đoạt được của bà N để lắp vào chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 của L để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 14/5/2022 L mang điện thoại chiếm đoạt được của bà N đến cửa hàng điện thoại Sỹ Liễu ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nói là điện thoại của mình để bán cho chủ cửa hàng là anh Triệu Văn S với giá 800.000 đồng và L đã chi tiêu cá nhân hết số tiền bán điện thoại nêu trên.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ do Phạm Văn L giao nộp: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Prime Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 17K7-7932, số khung: UM5XB02352, số máy: FMHU002352 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, có số IMEI: 354630058719374, lắp sim có số thuê bao 0373275297 (xe máy và điện thoại đều đã qua sử dụng).
Ngày 02/6/2022, cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Phạm Văn L tại số 72, ngõ 18 Định Công Thượng, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội, nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Cơ quan công an đã tiến hành dẫn giải L đi xác định địa điểm L bán chiếc điện thoại trên, L đã chỉ được vị trí bán chiếc điện thoại tại cửa hàng mua bán điện thoại Sỹ Liễu, Vạn Phúc, Thanh Trì, Hà Nội và nhận ra được Triệu Văn S là người đã mua điện thoại của L.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra dữ liệu hình ảnh video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/5/2022. Sau khi xem lại, L xác nhận người lấy trộm chiếc điện thoại chính là L.
Tại Kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai, kết luận: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, có trị giá 1.500.000 đồng.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, là tài sản L chiếm đoạt của bà N đem bán cho anh Triệu Văn S, sau đó anh S đã bán lại cho khách qua đường không quen biết nên không thu hồi được. Do anh Triệu Văn S không biết tài sản mà L bán là tài sản do trộm cắp mà có nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Prime kiểu dáng Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 17K7-7932, số khung: UM5XB02352, số máy: FMHU002352 đã thu giữ của Phạm Văn L. L khai mua lại xe trên của một người không quen biết. Kết quả tra cứu chiếc xe máy trên đứng tên đăng ký chủ sở hữu là anh Đào Đăng H (sinh năm 1984, HKTT: Xóm 6, An Ninh, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Tại cơ quan điều tra, anh H trình bày đã mua chiếc xe trên và đăng ký sở hữu năm 2006, sau đó anh H bán xe cho một người không quen biết. Kết quả giám định số khung, số máy của xe trên có số khung: RRKWCH0UM5XB 02352, số máy: VTTJL1P52FMH là số nguyên thủy. Kết quả tra cứu, xe trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành đăng thông báo công khai tìm chủ sở hữu chiếc xe máy trên 3 số báo An ninh Thủ đô vào các ngày 01, 05 tháng 10/2022 và ngày 01/11/2022, nhưng không có kết quả
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thái Liễu N yêu cầu Phạm Văn L bồi thường trị giá chiếc điện thoại bị chiếm đoạt trong vụ án theo kết quả định giá là 1.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS-HM ngày 29 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Phạm Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Bị hại là bà Nguyễn Thái Liễu N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà xác nhận đến nay bị cáo đã bồi thường cho bà trị giá chiếc điện thoại bị chiếm đoạt nên bà không yêu cầu bị cáo L bồi thường gì thêm về dân sự và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với chiếc sim điện thoại của bà có số thuê bao 0373275297 do không còn giá trị sử dụng, nên bà đề nghị tiêu hủy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn L với mức hình phạt từ 08 tháng tù đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại; Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280; Buộc bị cáo truy nộp sung công số tiền 800.000 đồng; Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Prime Wave, biển kiểm soát 17K7-7932, đề nghị tiếp tục đăng báo trong vòng 1 năm tìm chủ sở hữu đến hết thời hạn thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; tang vật thu giữ; bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 13/5/2022, tại cửa hàng hoa quả đối diện số nhà 18, ngõ 1, phố B, phường H, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Phạm Văn L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 của bà Nguyễn Thái Liễu N, trị giá 1.500.000 đồng, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Bị cáo Phạm Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để lén lút trộm cắp tài sản.
Xét bị cáo Phạm Văn L có 01 tiền án, ngày 26/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2016, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bản án này bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để truy cứu trách nhiệm hình sự Phạm Văn L theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại là bà N đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn L có nhân thân xấu, bản án số 23/2012/HSST ngày 27/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2014, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/6/2012, nên đã được xóa án tích, nhưng cho thấy tuy bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục, nhưng bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục phạm tội.
Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Văn L là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thái Liễu N xác nhận bị cáo đã bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt cho bà và bà không yêu cầu bị cáo Phạm Văn L phải bồi thường gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, có số IMEI: 354630058719374 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 sim điện thoại số 0373275297 của bà N do bị cáo lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen của bị cáo, trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa bà N đề nghị Tòa án cho tiêu hủy sim điện thoại này vì không còn giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu tiêu hủy chiếc sim điện thoại số thuê bao 0373275297.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Prime Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 17K7-7932, số khung: UM5XB02352, số máy: FMHU002352, đã qua sử dụng. Qua tra cứu, xác định chủ sở hữu chiếc xe được đăng ký đứng tên Đào Đăng H. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai anh H, anh H khai đã mua chiếc xe trên và đăng ký sở hữu năm 2006, sau đó anh H bán xe cho một người không quen biết. Kết quả giám định số khung, số máy của xe là số nguyên thủy, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành đăng thông báo công khai tìm chủ sở hữu trên 3 số báo An ninh Thủ đô vào các ngày 01, 05 tháng 10/2022 và ngày 01/11/2022, nhưng đến nay chưa có kết quả. Xét thấy, chiếc xe máy bị cáo sử dụng làm phương tiện phục vụ cho việc phạm tội, áp dụng Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015, sau 01 năm kể từ ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đăng thông báo công khai (ngày 01/10/2022) mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp xe máy thì tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với anh Triệu Văn S, quá trình điều tra xác định anh S lúc mua tài sản không biết tài sản do L trộm cắp mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn L.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thái Liễu N xác nhận bị cáo đã bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo Phạm Văn L phải bồi thường gì về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Phạm Văn L chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, có số IMEI: 354630058719374.
- Tịch thu tiêu hủy: sim điện thoại có số thuê bao 0373275297.
- Sau 01 năm kể từ ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đăng thông báo công khai là ngày 01/10/2022 để tìm chủ sở hữu của xe máy nhãn hiệu Prime Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 17K7-7932, số khung: UM5XB02352, số máy: FMHU002352 mà không xác định được ai là chủ sở hữu xe máy trên, thì tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
(Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2023-0067 ngày 30/12/2022).
5. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND, VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hoàng Mai; - Cơ quan CSĐT Công an quận Hoàng Mai; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; - UBND phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phƣơng Minh |