- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hà Chí N phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Chí N phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hà Chí N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 24-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trọng Tảo
2. Ông Nguyễn Xuân Định
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Chí N, tên gọi khác: Không; Sinh năm 2003 tại L, huyện Y, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: L, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông : Hà Đình B và bà Trần Thị H; bị cáo là con duy nhất; tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người bị hại: Chị Trần Thị Tuyết L - Sinh năm 1997. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức H; Chị Trần Thị Kim C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Chí N có quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Trần Thị Kim C, trú tại thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định. Cều ngày 21/9/2022, N, chị C và chị gái của chị C là chị Trần Thị Tuyết L về nhà chị L ở thôn Nguyệt Bói, xã Yên Tân, huyện Ý Yên chơi. Đến khoảng 01h ngày 22/9/2022 chị L nhờ N cắm hộ sạc điện thoại, N cắm sạc điện thoại iphonne 13 Promax loại 1TB của chị L và để điện thoại ở dưới gầm giường, sau đó mọi người đi ngủ. Khoảng 5h cùng ngày, N dạy và nảy sinh ý định Cếm đoạt Cếc điện thoại của chị L. N đến rút sạc điện thoại sau đó đi ra sân tắt nguồn và mang điện thoại đến gian chuồng lợn bỏ không ở phía Tây giấu điện thoại xuống khe thoát nước và để Cếc bao tải lên. Sau đó N đi vào trong nhà để mọi người không nghi ngờ và nghĩ có trộm lẻn vào nhà nên N đến bàn và để Cếc ví của N kê gần gường lấy số tiền 1.880.500 đồng trong ví giấu ở dưới đệm kê ở gian nhà trên và sau đó vào giường nằm ngủ. Đến khoảng 10h ngày 22/9/2022, chị L ngủ dậy không thấy điện thoại đâu nên hỏi “Hai đứa có thấy điện thoại của chị đâu không?”, N trả lời “Em không cầm, chị xem ở đâu” và cùng đi tìm. N đi đến chỗ để ví của mình mở ví ra và dơ lên cho chị L và chị C xem và nói “cũng bị mất chị à”, mọi người tìm một lúc không thấy đâu thì N nói với chị L xuống thị trấn Lâm để làm lại sim. Sau đó ba người đi xuống thị trấn Lâm, huyện Ý Yên để làm lại sim. Khoảng 14h cùng ngày thì N cùng chị L và chị C về nhà tiếp tục tìm điện thoại nhưng không thấy. Sau đó chị L có đơn gửi Công an xã Yên Tân, huyện Ý Yên trình báo sự việc.
Sau khi sự việc xảy ra, Ban Công an xã Yên Tân tiếp nhận và điều tra, xác minh các tài liệu ban đầu làm rõ hành vi Cếm đoạt của Hà Chí N và tiến hành thu giữ vật chứng là Cếc điện thoại APPLE - iPhonne 13PROMAX và số tiền 1.880.500 đồng; 01 ví da nam màu đen hiệu LV; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hà Chí N; 01 thẻ Visa của ngân hàng Viettinbak mang tên Hà Chí N; 01 thẻ Visa của ngân hàng MB mang tên Hà Chí N.
Tại kết luận định giá tài sản số 22/ĐGTS ngày 05/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ý Yên kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu APPLE - iPhonne 13PROMAX màu xanh dương, dung lượng 1 TB tính đến thời điểm định giá là 25.600.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Tài sản mà Hà Chí N Cếm đoạt là của Trần Thị Tuyết L là 01 điện thoại hiệu APPLE - iPhonne 13 PROMAX, chị L có đơn xin lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
Về tài sản có liên quan: 01 ví da nam màu đen hiệu LV; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hà Chí N; 01 thẻ Visa của ngân hàng Viettinbak mang tên Hà Chí N; 01 thẻ Visa của ngân hàng MB mang tên Hà Chí, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên trả lại cho Hà Chí N. Đối với số tiền 1.880.500 đồng là tiền cá nhân của N và chị C để trong ví của N, hai người tiêu chung vào mục đích cá nhân, không xác định được cụ thể ai có bao nhiêu. N cất dấu số tiền trên nhằm che đậy hành vi phạm tội của bản thân, không có mục đích Cếm đoạt. Chị C không đề nghị gì về sô tiền này. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên trả cho N theo quy định.
Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-YY ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định truy tố Hà Chí N về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên giữ N quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hà Chí N phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Hà Chí N từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại cơ quan điều tra nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc khởi tố và truy tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05h ngày 22/9/2022 tại nhà chị Trần Thị Tuyết L trú tại thôn Nguyệt Bói, xã Yên Tân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Hà Chí N đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu APPLE-iPhonne 13 PROMAX của chị Trần Thị Tuyết L trị giá 25.600.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Có nơi cư trú ổn định, rõ ràng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, có tác dụng cải tạo đối với bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét.
Xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật có liên quan: Đã được xử lý tại cơ quan điều tra nên không đề cập xem xét.
Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hà Chí N phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hà Chí N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Chí N cho Ủy ban nhân dân L, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2916 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Chí N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh + huyện Ý Yên; - Công an huyện; - C cục THADS huyện Ý Yên; - Bị cáo; - Người bị hại; - UBND L, huyện Y; - Hồ sơ vụ án; - Để THA hình sự. - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Anh |