vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 01/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn Thanh Tình trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HD
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày: 01-8-2023

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG H A

HỘI CHỦ NGHĨA VIỆ NAM

A N NH N D N H ỆN HD - ỈNH BL

Th nh ph n Hội đ ng t

ơ thẩm g m c :

Th m phán - hủ t a phiên tòa: Bà rương Hồng Diễm

H i th m nhân dân: Ông Lại Thiện Phong và ông Nguyễn hành Đến

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện HD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Đoàn hanh Quang và ông Nguyễn Văn hịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HD xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 12/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

H và tên: Sơn hanh T (tên g i khác: không có), sinh ngày 22/8/2004 tại BL; Nơi cư trú: Ấp XD, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ h c vấn: 8/12; con ông Sơn T, sinh năm 1976 và bà Trần Thị B, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: vào ngày 26/12/2022 bị Ủy ban nhân dân xã NTL xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tr m cắp tài sản, bị cáo chưa n p phạt; Bị cáo bị tạm từ ngày 29/4/2023 (có mặt).

Bị hại: Anh Danh Thái B, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp KT, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL

Chùa BL; Địa chỉ: ấp XG, xã NTL, huyện HD, tỉnh BL

Đại diện chùa Bửu Lâm: Sư cô Nguyễn Thị Y (Vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thanh Tình: Bà Trần Kim Th và bà Huỳnh Nguyễn Hoài Th – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh BL (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 18/12/2022, Sơn Thanh T, sinh ngày 22/8/2004, trú ấp XD, xã NTL, Huỳnh Văn H, sinh ngày 02/3/2007, trú ấp NTL, xã NTL và Lý Hoàng Tr, sinh ngày 05/8/2007, trú ấp BB, xã VPT, huyện PL, tỉnh BL cùng nhau đi về nhà của H. Do biết chùa BL tại ấp XD, xã NTL có thùng công đức bên trong có tiền nên Sơn Thanh T rủ H và Tr cùng đi lấy tr m tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, H và Tr đồng ý, khi đi T lấy theo 01 cây đèn pin và 01 cây kéo. Khi đi đến nơi, T, H và Tr đi vào khu vực trước cửa hánh điện, do cửa đã khóa nên Tình lấy cây kéo phá mở khóa. Sau khi vào được bên trong T lấy đèn pin soi tìm, phát hiện có 04 thùng gỗ dùng để đựng tiền công đức, Tình kêu H và Tr khiêng 01 thùng gỗ lớn đi trước, T lấy 01 thùng gỗ nhỏ đi ra sau đến khu vực đất trống cách chùa 100m thì dừng lại cả nhóm phá cửa của 02 thùng gỗ lấy được số tiền 900.000 đồng, do ít tiền nên T tiếp tục rủ H và Tr quay lại chùa BL để lấy hai thùng gỗ còn lại. Cả 3 quay lại chùa lấy tiếp 2 thùng gỗ đem ra phá lấy thêm được 1.700.000 đồng. Tổng số tiền lấy được là 2.600.000 đồng, T đếm lấy 860.000 đồng, H đếm lấy 860.000 đồng, số tiền còn lại 880.000 đồng Tr lấy nhưng không có đếm. Sau khi chia tiền xong các đối tượng đi về nhà của Huỳnh Văn H để ngủ. Đến sáng ngày 19/12/2022, bà Nguyễn Thị Y trụ trì chùa BL phát hiện mất tr m 04 thùng gỗ đựng tiền bên trong chánh điện nên đi tìm và phát 04 thùng gỗ trên tại bãi đất trống cách chùa khoảng 100m, các thùng đã bị hư hỏng nên bà Ý đem về sửa lại. Sau đó, bà Y đến Công an xã NTL trình báo và giao n p 04 thùng gỗ đựng tiền.

Quá trình điều tra Sơn Thanh T còn khai nhận vào khoảng 21 giờ ngày 20/3/2023, Trần Quốc L sinh ngày 04/11/2008, trú ấp KT, xã NTL là người khởi xướng rủ Sơn Thanh T, Huỳnh Văn H, trú ấp NTT, xã NTL cùng Đặng Minh Kh sinh ngày 09/11/2010, trú tổ 3, khu phố 1, phường TA, quận 12, thành phố HCM đi lấy tr m 01 xe máy YAMAHA hiệu sirius, biển số 95M1-8772, xe của Danh Thái B đậu trước nhà ông Trần Văn ựng tại ấp KT, xã NTL. Sau khi lấy tr m xe T, H, L và Kh thay phiên nhau dẫn xe về hướng Chợ Mới, khi đi qua trại tôm Thanh T 2 đến khu đất trống, do xe không có cần khởi đ ng và không nổ máy được, sợ bị phát hiện nên T, H, L và Kh thống nhất để lại xe và đi về nhà ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 21/3/2023, Nguyễn Văn Tr trú ấp NTT trên đường đưa cháu đi h c phát hiện xe YAMAHA hiệu sirius, biển số 95M1-8772 tại khu đất trống gần trại tôm Thanh T 2 nên trình báo công an xã NTL sự việc.

Trong quá trình điều tra bị cáo Sơn Thanh T đã thành kh n khai báo về hành vi phạm t i của mình.

Tại Bản kết luận giá trị tài sản số: 08/HĐ ngày 11/4/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HD kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, sơn màu trắng đen, số khung C6309Y241529, số máy 5 63241527, xe đăng ký lần đầu năm 2009, biển số đăng ký 95M1 – 8772, xe đã qua sử dụng còn giá trị là 6.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 11/CT – VKSHD ngày 11/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Sơn Thanh T t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm không thay đổi so với bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên phát biểu đề xuất đường lối giải quyết. Đề nghị H i đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Sơn Thanh T phạm t i “Tr m cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51; điểm o, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; B luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Sơn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.

-Về vật chứng vụ án: ơ quan ảnh sát điều tra ông an huyện HD đã giao trả lại cho bị hại là anh Danh Thái B và đại diện chùa BL xong theo quy định nên đề nghị không đề cập xử lý.

-Về án phí hình sự sơ th m: miễn cho bị cáo Sơn Thanh T.

Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thanh T trình bày quan điểm bào chữa: thống nhất với t i danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Tình. Tuy nhiên, mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là quá cao, do bị cáo là người dân t c nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, gia đình bị cáo thu c diện h nghèo, bị cáo là lao đ ng chính trong gia đình, cha mẹ bị cáo bị bệnh nên đề nghị H i đồng xét xử tuyên mức án 6 tháng tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự thủ tục quy định tại B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cùng những chứng cứ tài liệu khác được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo được thể hiện: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Sơn Thanh T đã 02 lần thực hiện hành vi tr m cắp tài sản với tổng giá trị là 8.600.000 đồng, cụ thể: Vào khoảng 21 giờ ngày 18/12/2022, bị cáo Sơn Thanh T cùng với Huỳnh Văn H và Lý Hoàng Tr lén lút vào chùa BL lấy tr m số tiền 2.600.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ ngày 20/3/2023, Trần Quốc L rủ Sơn Thanh T, Huỳnh Văn H và Đặng Minh Kh đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, sơn màu trắng đen, số khung C6309Y241529, số máy 5C63241527, xe đăng ký lần đầu năm 2009, biển số đăng ký 95M1 – 8772, xe đã qua sử dụng còn giá trị là 6.000.000 đồng. Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận hành vi phạm t i của mình và xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Do đó cáo trạng số 11/CT – VKSHD ngày 11/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Sơn Thanh T phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Xét tính chất, mức đ , hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác m t cách trái pháp luật, mà quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao đ ng sản xuất mà còn gây mất trật tự trị an nơi xảy ra t i phạm. Bị cáo trong lúc thực hiện hành vi phạm t i đã là người thành niên và có khả năng nhận thức được tr m cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Là m t thanh niên khỏe mạnh, lẽ ra bị cáo có thể tìm được m t công việc phù hợp để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân nhưng bị cáo bất chấp pháp luật để tr m cắp tài sản, hưởng thụ thành quả lao đ ng của người khác bằng cách vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, xét tình tiết giảm nhẹ: bị cáo T có thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử, bị cáo khắc phục bồi thường thiệt hại cho các bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo khi H i đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt.

. Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo T phạm t i hai lần, mỗi lần đều đủ định lượng cấu thành t i phạm nên áp dụng tình tiết phạm t i 02 lần trở lên. Mặc khác, bị cáo Tình còn có hành vi rủ rê, xúi giục Huỳnh Văn H và Lý Hoàng Tr chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi tr m cắp tài sản. Ngoài ra, nhân thân bị cáo T đã bị Ủy ban nhân dân xã NTL xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tr m cắp tài sản, chưa n p phạt, đáng lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn, sửa đổi nhưng bị cáo lại bất chấp, coi thường pháp luật tiếp tục lao vào con đường t i phạm, lấy tr m tài sản của người khác để thõa mãn cho nhu cầu cá nhân.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. H i đồng xét xử xét thấy cần có mức án tù nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm t i của bị cáo để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, giáo dục cho bị cáo trở thành m t công dân có ích cho xã h i.

Đối với Lý Hoàng Tr, Trần Quốc L và Huỳnh Văn H có hành vi cùng Sơn Thanh T tr m cắp tài sản nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm t i các đối tượng chưa đủ 16 tuổi nên hành vi các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành t i phạm nên ơ quan điều tra Công an huyện HD ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với Đặng Minh Kh, có hành vi cùng Sơn Thanh T tr m cắp tài sản nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm t i chưa chưa đủ 14 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay chưa xác định được nơi đối tượng đăng ký thường trú, tạm trú, khi nào xác định được sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét, giải quyết.

Vật chứng vụ án: đã giao trả lại xong cho các bị hại nên không xem xét giải quyết.

Án phí hình sự sơ th m: miễn toàn b án phí cho bị cáo Sơn Thanh T do bị cáo là h nghèo có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã NTL và bị cáo có đơn xin miễn án phí.

. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾ ĐỊNH:

1/.Tuyên bố bị cáo Sơn Thanh T phạm t i “Tr m cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51; điểm o, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; B luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Sơn Thanh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2023.

2/.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3/.Về vật chứng vụ án: Không đặt ra xem xét.

4/. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc h i về án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ th m, miễn toàn b cho bị cáo Sơn Thanh T.

Án xử sơ th m, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ