vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Lê Nguyễn Anh B v Phạm Thanh H phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Tiến T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 09 tháng 6 năm 2022. Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Anh B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 09 tháng 6 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tiến T và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Lê Nguyễn Anh B v Phạm Thanh H phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày: 21-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tấn Bình.

Ông Nguyễn Văn Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện B u B ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện àu àng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B u B ng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS ng y 06 tháng 01 năm 2023 v Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/HSST-QĐ ng y 03 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Bùi Tiến T, sinh năm 1998 tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 6, phường N, th nh phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Uông Thị Thanh T2; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ng y 09 tháng 6 năm 2022 đến ng y 15 tháng 6 năm 2022 tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Lê Nguyễn Anh B, sinh năm 1995 tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 5, phường N, th nh phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Kim A; tiền sự: không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2014/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2016/HS-ST ng y 04 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 256/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp t i sản”; bị bắt, tạm giữ từ ngày 09 tháng 6 năm 2022 đến ng y 15 tháng 6 năm 2022 tạm giam cho đến nay; có mặt.

3. Phạm Thanh H, sinh năm 2002 tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 9, phường N, th nh phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh D và bà Huỳnh Thị Ánh Đ; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ng y 13 tháng 6 năm 2022 đến ng y 15 tháng 6 năm 2022 tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: B Lường Thị G, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp 3, xã H, huyện E, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: B Huỳnh Thị Ánh A, sinh năm 1973, nơi cư trú: khu phố 9, phường N, th nh phố M, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về h nh vi phạm tội của các bị cáo:

Từ Thanh F cùng với các bị cáo Lê Nguyễn Anh B, Bùi Tiến T v Phạm Thanh H đều sinh sống tại th nh phố M, tỉnh Bình Dương v có mối quan hệ quen biết với nhau. Khoảng 09 giờ 30 phút ng y 08 tháng 6 năm 2022, Từ Thanh F gọi điện cho Bùi Tiến T đi trộm cắp t i sản thì T đồng ý. Sau đó F điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1- 215.60 chạy qua chở T. Tại đây T gọi điện rủ thêm Lê Nguyễn Anh B thì được B đồng ý tham gia, sau đó F và T đi qua nhà B. Sau đó, F lấy điện thoại gọi điện cho Phạm Thanh H và T nói chuyện rủ H thì được H đồng ý. Khoảng 15 phút sau H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1-94.114 chạy qua nh T. Sau đó B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1-94.114 chở H, còn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1- 215.60 chở F đi từ th nh phố Thủ Dầu Một lên huyện B u B ng để tìm nh người dân sơ hở đột nhập trộm cắp t i sản. Khi đi cả nhóm mang theo 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO do F chuẩn bị (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tu vít, 01 cái x beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại) v 01 bình xịt hơi cay B bỏ trong người. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ng y thì đến khu vực ấp 2, xã H, huyện E, tỉnh Bình Dương thì phát hiện một nh dân đi vắng, có khóa cửa nhưng xung quanh vắng vẻ nên cả nhóm dừng lại. F và B xuống xe đi bộ mang theo ba lô đi v o phía cửa nh . F lấy ra 01 chiếc mỏ lết đưa cho B để bẻ khóa cửa rồi đi v o trong nh lục lọi tìm kiếm t i sản còn T và H đứng bên ngo i xe cảnh giới. Khoảng 15 phút sau F quay ra v lấy được 01 xe mô

2

tô nhãn hiệu Honda LEAD m u đỏ nâu, biển số 61K1- 248.31 còn B cầm ba lô vải m u đen đựng dụng cụ phạm tội đi theo sau. F điều khiển xe mô tô lấy trộm được cùng cả nhóm nhanh chóng tẩu thoát về tới khu vực bia chiến thắng huyện B u B ng thì bị lực lượng Công an đang đi tuần tra phát hiện truy đuổi. F quay đầu xe chạy ngược về hướng xã Hưng Hòa thì bị bắt quả tang còn T và B đã vứt ba lô vải m u đen lại bỏ chạy về tới cầu ông Cộ xã An Phú, th nh phố Thuận An thì B vứt bình xịt hơi cay xuống sông đến ng y 09 tháng 6 năm 2022 T và B bị bắt giữ. Ngày 13 tháng 6 năm 2022, H đã lên cơ quan Công an đầu thú. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng các bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình. Xe mô tô bị chiếm đoạt l của gia đình b Lường Thị G mua hồi tháng 6 năm 2021 với trị giá l 45.000.000 đồng.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, các bị cáo T, B và H thừa nhận sự việc phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án quá trình điều tra, truy tố không có ý kiến gì về h nh vi phạm tội của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố h nh vi của các bị cáo T, B và H đủ yếu tố cấu th nh tội “Trộm cắp t i sản”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ng y 08 tháng 6 năm 2022, vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: LEAD m u đỏ nâu, biển số 61K1- 248.31, số khung RLHJF7933MZ024870, số máy JF89E0342371; 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tua vít, 01 cái xà beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại).

Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ng y 09 tháng 6 năm 2022, vật chứng thu giữ của bị cáo T gồm: 01 xe mô tô hiệu EXCITER, m u đỏ, biển số 61B1-215.60, số khung RLC55P10BY056736, số máy 55P1056742, dung tích 134cc, loại xe hai bánh từ 17543, số loại EXCITER-55P1 v 01 điện thoại di động hiệu SamSung m u xanh đã qua sử dụng bị hư hỏng phía sau lưng.

Theo Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, đầu thú, vật chứng thu giữ của bị cáo H gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số: 61B1-941.14, số máy 59D114439; số khung P7109Y002486.

Theo kết luận định giá số 28/KL-HĐĐGTS ng y 15 tháng 6 năm 2022, Hội đồng định giá t i sản trong tố tụng hình sự huyện B u B ng kết luận: xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: LEAD m u đỏ nâu, biển số: 61K1- 248.31, số khung RLHJF7933MZ024870, số máy JF89E0342371, đăng ký đầu tháng 02 tháng 6 năm 2021, đã qua sử dụng có giá trị l 38.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

3

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD m u đỏ nâu, biển số 61K1- 248.31, số khung RLHJF7933MZ024870, số máy JF89E0342371 (đứng tên Lường Thị H1) do b Lường Thị G l chủ sở hữu. Ngày 23 tháng 8 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 37QĐ trả lại cho b Lường Thị G.

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số 1B1-941.14, số khung P7109Y002486, số máy 59D114439 thuộc sở hữu bà Huỳnh Thị Ánh A. Bị cáo H và bị cáo B sử dụng l m phương tiện phạm tội b A không biết nên ngày 23 tháng 8 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 38/QĐ trả lại cho chủ sở hữu l b Huỳnh Thị Ánh A.

+ Đối với 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tu vít, 01 cái x beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại) l dụng cụ m các bị cáo dùng để bẻ khóa nh bị hại đột nhập lấy trộm t i sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh đã qua sử dụng bị hư hỏng phía sau lưng xét thấy đây l công cụ, phương tiện dùng v o mục đích phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nh nước.

- Quá trình điều tra phát hiện, ngo i vụ trộm trên thì Từ Thanh F còn cùng một đối tượng khác thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản tại xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Ng y 04 tháng 10 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng ra Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ đối với Từ Thanh F. Ng y 06 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện B u B ng ra Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 03/QĐ chuyển vụ án trộm cắp t i sản xảy ra ng y 08 tháng 6 năm năm 2022 tại ấp 2, xã Tân Hưng, huyện B u B ng, tỉnh Bình Dương theo Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ ng y 04 tháng 10 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo để điều tra theo đúng thẩm quyền đồng thời chuyển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER m u đỏ đen, biển số 61B1-215.60, số khung RLCE55P10BY056736, số máy 55P1056742 l phương tiện Từ Thanh F dùng v o mục đích phạm tội cho Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để xử lý cùng với Từ Thanh F.

- Về trách nhiệm dân sự: B Lường Thị G đã nhận lại t i sản không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Quá trình điều tra, các bị cáo, bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quF đến vụ án không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

4

+ Bản Cáo trạng số 97/CT - VKS ng y 24 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B u B ng truy tố các bị cáo Bùi Tiến T, Pham Thanh H về tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lê Nguyễn Anh B về tội “Trộm cắp t i sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Tiến T xử phạt bị cáo T từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 v Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Nguyễn Anh B, xử phạt bị cáo B từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 v Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Thanh H; xử phạt bị cáo H từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách l 28 (hai mươi tám) tháng đến 32 (ba mươi hai) tháng.

- Xử lý vật chứng:

Đối với 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tu vít, 01 cái x beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại) l dụng cụ phương tiện dùng v o việc phạm tội xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu, nộp ngân sách nh nước 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh đã qua sử dụng bị hư hỏng phía sau lưng nên không kiểm tra máy.

Tại phiên tòa, các bị cáo v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát v luận tội của Kiểm sát viên.

Bị hại vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.

Các bị cáo trình b y lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được h nh vi của mình l vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải v mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B u B ng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của

5

Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án v phù hợp với các t i liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử đã có cơ sở xác định: khoảng 11 giờ 20 phút ng y 08 tháng 6 năm 2022, tại ấp 2, xã H, huyện E, tỉnh Bình Dương các bị cáo Bùi Tiến T, Phạm Thanh H v Lê Nguyễn Anh B có hành vi lén lút đột nhập v o nh bị hại trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD m u đỏ nâu, biển số 61K1- 248.31 của bị hại G. Giá trị t i sản các bị cáo chiếm đoạt l 38.000.000 đồng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các t i liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng v diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp t i sản”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo H và T theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo B theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là ho n to n đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. H nh vi của các bị cáo l rất nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng lúc chủ sở hữu đi l m không có nh , các bị cáo dùng mỏ lết bẻ ổ khoá cửa v o nh bị hại lấy trộm t i sản. Về nhận thức, các bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt t i sản của bị hại l vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đây l vụ án có đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử sẽ phân tích vai trò của các bị cáo để thấy được tính chất, mức độ của từng bị cáo. Bị cáo B cùng với F l người trực tiếp v o nh bị hại lấy trộm t i sản, còn T và H đứng bên ngo i cảnh giới. Các bị cáo l những người có sức khỏe nhưng không lo l m ăn, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động, tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã thực hiện h nh vi phạm tội. H nh vi của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu t i sản của bị hại được pháp luật bảo vệ m còn gây mất trật tự trị an trong khu vực. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất v h nh vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục v phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét to n diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo như sau.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra v tại phiên tòa, các bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo T v bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy

6

định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Phạm Thanh H sau khi bị phát hiện h nh vi phạm tội đã chạy thoát nhưng sau đó đến Cơ quan điều tra Công an huyện B u B ng, tỉnh Bình Dương đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét h nh vi của Từ Thanh F ngo i lần phạm tội n y thì Từ Thanh F còn cùng một đối tượng khác thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản tại xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Ng y 04 tháng 10 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ ng y 04 tháng 10 năm 2022 đối với Từ Thanh F. Ngày 06 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện B u B ng ra Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền số 03/QĐ chuyển vụ án trộm cắp t i sản xảy ra ng y 08 tháng 6 năm 2022 tại ấp 2, xã H, huyện E, tỉnh Bình Dương theo Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ ng y 04 tháng 10 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để điều tra theo đúng thẩm quyền l phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo H có nhân thân tốt ngo i lần phạm tội n y, bị cáo luôn chấp h nh chủ trương chính sách của pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú và có nơi cư trú rõ r ng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Hiện nay, bị cáo H đang là sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một, để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục ho n th nh chương trình học của bị cáo xét thấy, không cần phải bắt chấp h nh hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo v việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an to n xã hội. Hội đồng xét xử xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 v Nghị quyết 02/2018/NQ– HĐTP ng y 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo v Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ng y 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ–HĐTP ng y 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo H hưởng án treo l đã đủ răn đe, giáo dục các bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo T, B và H tại phiên tòa đã xem xét đầy đủ, to n diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số 61B1-941.14, số khung P7109Y002486, số máy 59D114439 thuộc sở hữu b Huỳnh Thị Ánh A. Ngày 08 tháng 6 năm 2022, bị cáo H và B sử dụng l m phương tiện phạm tội b A không biết. Ngày 23 tháng 8 năm 2022, Cơ quan

7

Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 38/QĐ trả lại cho chủ sở hữu l b Huỳnh Thị Ánh A là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD m u đỏ nâu, biển số 61K1- 248.31, số khung RLHJF7933MZ024870, số máy JF89E0342371 (đứng tên Lường Thị H1) do b Lường Thị G l chủ sở hữu. Ngày 23 tháng 8 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B u B ng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 37QĐ trả lại cho b Lường Thị G l phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER m u đỏ đen, biển số 61B1-215.60, số khung RLCE55P10BY056736, số máy 55P1056742 l phương tiện Từ Thanh F dùng v o mục đích phạm tội đã chuyển cho Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương v o ng y 14 tháng 02 năm 2023 để xử lý cùng với Từ Thanh F l phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tu vít, 01 cái x beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại) l dụng cụ m các bị cáo dùng để bẻ khóa nh bị hại đột nhập lấy trộm t i sản xét thấy không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 v điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung m u xanh SM-A217F MAIN l công cụ phương tiện bị cáo T dùng v o mục đích phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu nộp ngân sách nh nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 v điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự : Bị hại b Lường Thị G đã nhận lại t i sản v không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 v Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Tiến T.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 v Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Nguyễn Anh B.

8

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Phạm Thanh H.

Căn cứ v o điểm a khoản 1 Điều 46 v điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106, các Điều 136, 260, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bF Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến T, Lê Nguyễn Anh B v Phạm Thanh H phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

- Xử phạt bị cáo Bùi Tiến T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 09 tháng 6 năm 2022.

- Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Anh B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 09 tháng 6 năm 2022.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ng y tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Thanh H bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Thanh H đang bị tạm giam, nếu bị cáo Phạm Thanh H không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Phạm Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường N, th nh phố M, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi h nh án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô vải m u đen có chữ LENOVO (bên trong có 02 chiếc mỏ lết, 02 chiếc tu vít, 01 cái x beng d i khoảng 40 cm, 01 cây ba khúc bằng kim loại)

Tịch thu nộp ngân sách nh nước 01 điện thoại di động hiệu SamSung m u xanh SM-A217F MAIN (đã qua sử dụng bị hư hỏng phía sau lưng nên không kiểm tra trong máy).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

9

3. Về án phí: các bị cáo Bùi Tiến T, Lê Nguyễn Anh B v Phạm Thanh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ nhận bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ