- Tranh chấp gì? án hình sự — "TNK-LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc K.
- Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-PT Ngày: 13 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Tân
Bà Võ Thị Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kiến Toàn –Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 100/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trần Ngọc K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc K, sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: số 177/10, ấp PH A, xã PH1, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Q (chết) và bà Trần Ngọc L; có chồng là Lê Minh C (đã ly hôn) và 04 con; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Văn H, Luật sư Công ty luật TNHH MTV Phan Văn H thuộc Đoàn luật sư Đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
- Bị hại: Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1971; nơi cư trú: số 36/7, đường Trần P, Phường 4, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Quyết Q, Luật sư Công ty luật Quyết T Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị V, sinh năm: 1969; nơi cư trú: số 370A, khóm Tân Thuận A, phường TN, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
bị cáo
bà Huỳnh
bà
bị hại
g N cho bị cáo K
Do
bị cáo K
bị hại N nên bị cáo K
bị cáo K mục đích để Bị cáo K
, cư
VH
N VL
nhờ T tên bị cáo K
/01 giấy giả. Bị cáo K thống nhất và cung cấp cho T
photo g
P
L
L
photo
VL
VL
bị cáo K), ngoài ra bị cáo K
bản photo
để T
giả
VL
photo do bị cáo K
. Sau đó, T đã làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao cho bị cáo K gồm:
- 01
phát hành CC015459 mang tê
PH
H1, h
H
2
L
08/3/2017.
- 01
phát hành BT5
p
L
VL 29/8/2014.
Sau khi có được giấy chứng nhận
giả, bị cáo K liên hệ
bị hại N
đã được làm giả
; cụ thể các lần vay sau:
n
ph
L; bị cáo K
bị hại N
n
vay của bị hại N số
,
n
vay của bị hại N số
,
Cả 03 lần vay tiền bị cáo đã thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nêu trên cho bị hại Nhung.
k
VL
bị cáo K làm biên nhận vay tiền
bị hại N
một
,
bị cáo K
tiền
bị hại N, mà xác lập biên nhận vay nhằm mục đích chuyển giao nợ, cụ thể
bị cáo K
bà V
. Tại thời điểm này, bà V
bị hại N
bị cáo K, V
bị hại N
, bị cáo K bà V được các bên thống nhất chuyển sang bị cáo K nợ bị hại N.
Như
bị hại N
K
bị hại N
bị hại N
bị cáo K đưa cho bị hại N
,
bị cáo K
bị hại N, bị cáo K
bị hại N
ũ
bị hại N, bị cáo K thỏa thuận
hư
L
bị hại N. Bị cáo K bị hại N
,
, bị cáo K
bị hại N
, bị cáo K
mục đích
bị hại N, do sợ bị phát hiện giấy giả nên
bị cáo K
bỏ.
Do bị cáo K đã đóng lãi theo thỏa thuận 3%/tháng được tổng số tiền 108.700.000 đồng rồi không còn khả năng đóng lãi nên bị hại N khởi kiện dân sự đối với bị cáo K tại Tòa án. Khi làm thủ tục khởi kiện, bị hại N liên hệ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai để trích lục thông tin về thửa đất thì phát hiện là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị cáo K thế chấp cho bị hại N là giả nên bị hại N đến Cơ quan Công an thành phố VL tố giác tội phạm.
Quá trình điều tra, bị cáo K thừa nhận đã thuê T làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để vay của bị hại N số tiền 270.000.000 đồng và đứng ra nhận trả nợ thay cho bà V nợ tiền mua đất của bị hại N với số tiền 210.000.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 344/KLGĐ-PC09 ngày 23/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:
-T
-
-
VL
(BL 35-36).
làm giả
,
đối với
T sau.
bà
bị hại N
. Đối với số tiền chuyển giao nợ
bà V với K và bị hại N
Bà V không đồng ý trả lại cho bị hại N số tiền 210.000.000 đồng mua đất chuyển giao nợ cho bị cáo trả thay, vì hiện nay thửa đất mua của bà V đã chuyển nhượng cho người khác.
ông Lê Văn Th không b
và
cho ông,
.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố VL đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc K phạm tội “ “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Áp dụng
và khoản 1 Điều 341; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc K 05 (năm) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 (sáu) tháng tù, về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo K chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hoặc bị bắt để chấp hành án.
Trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 463, 466, 468, 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Hồng N số tiền 480.000.000 đồng (Trong đó 270.000.000 đồng tiền lừa đảo chiếm đoạt và 210.000.000 đồng tiền chuyển giao nợ thành tiền vay) và số tiền lãi 149.671.000 đồng.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 7 năm 2022 bị cáo Trần Ngọc K có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022, bị hại Nguyễn Thị Hồng N có đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc K. Buộc bà Huỳnh Thị V phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền 210.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,66%, trong thời gian 31 tháng, tính từ tháng 11/2019 đến ngày 28/6/2022 tương ứng với số tiền 108.438.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, yêu cầu bà Vinh thanh toán cho bị hại số tiền 210.000.000 đồng và tính lãi suất 108.438.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng nặng hình phạt đối với bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của bà N đối với phần trách nhiệm dân sự, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố VL.
Áp dụng
và khoản 1 Điều 341; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc K 07 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù, về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo K chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 463, 466, 468, 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Hồng N số tiền 480.000.000 đồng (trong đó 270.000.000 đồng tiền lừa đảo chiếm đoạt và 210.000.000 đồng tiền chuyển giao nợ thành tiền vay).
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Luật sư Phan Văn H bào chữa cho bị cáo trình bày: đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, vì bị cáo có tình tiết mới, cấp sơ thẩm xác định số tiền chiếm đoạt là 270.000.000 đồng, đây là giao dịch bất hợp pháp, hợp đồng bị vô hiệu, nhưng lại tính lãi là không đúng, đối với số tiền đóng lãi 108.700.000 đồng nên xem đây là số tiền khắc phục hậu quả của bị cáo K, đây cùng là tình tiết giảm nhẹ mới xin cấp phúc thẩm xem xét. Đối với số tiền 210.000.000 đồng là giao dịch dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà N.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại N: thống nhất việc viện kiểm sát áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần đối với bị cáo, đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, đề nghị dành cho bị hại N một vụ kiện dân sự đối với số tiền 210.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố VL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: do cần tiền tiêu xài, khoảng đầu tháng 9 năm 2019 bị cáo K đã có hành vi thuê Nguyễn Chí T làm 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên bị cáo Trần Ngọc K, sau đó dùng giấy giả để vay tiền của bị hại Nguyễn Thị Hồng N nhiều lần chiếm đoạt với tổng số tiền là 270.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” là có căn cứ.
Đối với kháng cáo của bị hại N yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo là được chấp nhận, mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội khi đang mang thai, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng khi quyết định hình phạt từ đó áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Đối với kháng cáo của bị hại Nhung yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị V phải thanh toán cho bị hại số tiền 210.000.000 đồng và tính lãi suất 108.438.000 đồng.
Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện số tiền 210.000.000đồng là thỏa thuận chuyển giao nợ giữa 03 bên là bị hại N, bị cáo K và bà V được xác lập trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc, đây là giao dịch dân sự, cấp sơ thẩm xác định đây là giao dịch dân sự là có căn cứ và cấp sơ thẩm xác định xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trên số tiền chiếm đoạt là 270.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên cấp sơ thẩm lại giải quyết luôn số tiền dân sự 210.000.000 đồng và tính lãi suất trên số tiền 480.000.000 đồng bao gồm khoản tiền của giao dịch dân sự và khoản tiền bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự là không chính xác. Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt 270.000.000 đồng không tính lãi suất vì đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt thông qua hành vi gian dối của mình, đây không phải là giao dịch dân sự hợp pháp; căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra”. Đối với số tiền 210.000.000 đồng như đã nhận định trên, đây là giao dịch dân sự, tại phiên tòa sơ thẩm Viện kiểm sát đã rút một phần cáo trạng không truy tố bị cáo số tiền này, lẽ ra cấp sơ thẩm nên để bị hại N kiện bị cáo 01 vụ kiện dân sự khác, chính vì cấp sơ thẩm giải quyết nên xác định tư cách tố tụng của bà Huỳnh Thị V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là sai, bà Vinh không tham gia tố tụng trong vụ án hình sự mới đúng, bà N kháng cáo yêu cầu bà V trả tiền và tính lãi là không thuộc phạm vi giải quyết vụ án hình sự, nên hủy phần dân sự đình chỉ xét xử phần dân sự, bị hại N có quyền khởi kiện bị cáo K vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Đối với trách nhiệm dân sự: như đã nhận định trên, Tòa án chỉ xem xét giải quyết số tiền chiếm đoạt 270.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo K và bị hại N đều thừa nhận bị hại N đã nhận lãi 108.700.000 đồng trên số tiền gốc 270.000.000 đồng, nên được khấu trừ số tiền 108.700.000 đồng vào số tiền bị cáo đã chiếm đọat 270.000.000 đồng, bị cáo còn trả lại cho bị hại N số tiền 161.300.000 đồng.
Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Đối với lời phát biểu của luật sư H bào chữa cho bị cáo cho rằng bị hại N đã nhận 108.700.000 đồng tiền lãi của bị cáo, nên xem đây là số tiền bị cáo khắc phục cho bị hại xin cho bị hại được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Lời trình bày của luật sư là chưa được chấp nhận vì số tiền bị cáo K đóng lãi cho bị hại N khi chưa phát hiện tội phạm, hành vi đóng tiền lãi của bị cáo nhằm để che đậy hành vi phạm tội của mình và thực tế bị hại N phát hiện hành vi gian dối của bị cáo K khi bị hại N chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tại Tòa án do bị cáo K không đóng lãi. Tuy nhiên, như đã nhận định trên, số tiền lãi bà N nhận sẽ được khấu trừ vào số tiền bị cáo chiếm đoạt.
Lời phát bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư Q cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng vì khi viện kiểm sát rút một phần cáo trạng đối với số tiền 210.000.000 đồng, lẽ ra cấp sơ không xem xét, nhưng cấp sơ thẩm giải quyết trong vụ án là sai sót. Căn cứ Điều 325 của Bộ luật tố tụng hình sự, khi kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử và xem xét có chấp nhận hay không chấp nhật việc rút một phần nội dung quyết định truy tố, do đó cấp sơ thẩm không vi phạm tố tụng như luật sư trình bày. Tuy nhiên, như nhận định trên cần tách phần 210.000.000 đồng để giải quyết vụ án dân sự khi có yêu cầu.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do sửa án về phần trách nhiệm dân sự, nên án phí dân sự được điều chỉnh lại.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc K.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Hồng N.
Sửa Bản án sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long về phần hình phạt và phần trách nhiệm dân sự.
Áp dụng
và khoản 1 Điều 341; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc K (07 bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 (sáu) tháng tù, về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo K chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Trần Ngọc K trả cho bị hại Nguyễn Thị Hồng N số tiền 161.300.000 đồng.
Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Ngọc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Buộc bị cáo Trần Ngọc K nộp 8.065.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC: 01; - TANDCC: 01; - VKSNDCC: 01; - VKSND TVL: 02; - TAND TPVL: 02; - VKSND + CQĐT TPVL: 02; - CQTHADS + THAHS TPVL: 02; - TG + BC: 02; - PHSCAVL: 01; - STP: 01; - UBND, CA xã Phước Hậu: 02; - Lưu VP, P.KTNV, lưu hồ sơ vụ án: 02. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Huỳnh Thị Kiều Duyên |