vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm b khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Xử: Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Bùi Thị H . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị H - Nguyễn Văn M (Thay đổi người trực tiếp nuôi con)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ
Ngày: 13/01/2023
V/v: “Tranh chấp thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Luận

2. Bà Nguyễn Thị Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP.Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan

- Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2022/ TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 21/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 và “Thông báo thay đổi người tiến hành tố tụng và thời gian mở lại phiên tòa” số 10/2023/QĐ-TA ngày 03/01/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Phố TC, phường ĐT, thành phố TH, tỉnh TH

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990

HKTT: SN ... DG, phố TS, phường PS, thành phố TH, tỉnh TH

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam số ... Bộ công an (Địa chỉ: Thị trấn TN, huyện YD, tỉnh TH)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bùi Thị Huệ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn năm 2013; Quá trình chung sống do mâu thuẫn trầm trọng không khắc phục được nên anh chị đã thuận tình ly hôn.

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2018/ST-HNGĐ ngày 20/7/2018 của TAND TP.Thanh Hóa, Tòa án đã ghi nhận thỏa thuận của chị và anh M như sau: Sau khi ly hôn giao hai con chung là Nguyễn Phú K, sinh ngày 27/5/2013 và Nguyễn Diệp C, sinh ngày 02/8/2016 là con chung của chị và anh M cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M.

Quá trình anh M trực tiếp nuôi con theo quyết định của Tòa án bản thân chị không có ý kiến gì. Tuy nhiên, hiện tại anh M bị kết án 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự số 285/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân TP.Thanh Hóa. Vì vậy anh M không thể trực tiếp nuôi con theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn nữa.

Để đảm bảo cuộc sống của các con chị H yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, chị đề nghị Tòa án giao hai con chung Phú K và Diệp C cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Do anh M đi chấp hành án tù, không có điều kiện kinh tế nên chị không yêu cầu anh Mạnh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về phía bị đơn Nguyễn Văn M

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các thông báo tố tụng cho anh M thông qua trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời trực tiếp gặp anh M tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa (trong thời gian anh M bị giam giữ chờ đi chấp hành án) để hướng dẫn anh M viết bản tự khai và tiến hành phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải song anh M không chấp hành, không hợp tác làm việc.

Mặc dù anh M không viết bản tự khai, từ chối ký tất cả các biên bản của Tòa án, song trong các buổi làm việc anh M có ý kiến trình bày: Từ khi anh và chị Bùi Thị H ly hôn, anh trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Phú K , sinh ngày 27/5/2013 và Nguyễn Diệp C , sinh ngày 02/8/2016 đầy đủ chu đáo, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Đến nay, mặc dù anh phải đi chấp hành án nhưng anh đã nhờ các chị anh chăm lo cho hai con. Vì vậy anh không đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con. Nếu chị H cứ kiên quyết đòi nuôi con thì Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết. Anh không cấp dưỡng nuôi con với chị H vì anh không đồng ý thay đổi người nuôi con.

Tại bản tự khai ngày 26/12/2022 cháu Nguyễn Phú K và Nguyễn Diệp C có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17/11/2022 chị Huệ giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và giao hai con chung Phú K , Diệp C cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; Anh M kiên quyết không đồng ý đề nghị của chị H .

Ngày 12/12/2022, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 28/12/2022, quyết định đã được tống đạt cho anh M thông qua ban giám thị Trại giam số 5 Bộ công an (Nơi anh M đang chấp hành án) tuy nhiên anh M từ chối nhận văn bản vì không đồng ý thay đổi việc nuôi con theo yêu cầu của chị H .

Tại phiên tòa ngày 28/12/2022 anh M vắng mặt và không có đề nghị xét xử vắng mặt, do đó HĐXX quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời có thông báo thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 13/01/2023. Quyết định hoãn phiên tòa và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa đã được gửi cho anh M thông qua ban giám thị Trại giam số 5 Bộ công an (nơi anh M đang chấp hành án).

Tại phiên tòa hôm nay, chị Bùi Thị H có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung của chị và anh M là cháu Phú K và Diệp C , chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Nguyễn Văn M vắng mặt lần thứ hai.

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của chị H kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định, anh M không chấp hành quy định. Tại phiên tòa hôm nay, anh M vắng mặt lần thứ hai, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt anh M ; Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn tại thành phố Thanh Hóa, do đó Tòa án nhân dân TP.Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay anh M vắng mặt lần thứ hai, HĐXX căn cứ Điều 227 - Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh M .

[2] Về nội dung:

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn M có hai con chung là Nguyễn Phú K , sinh ngày 27/5/2013 và Nguyễn Diệp C , sinh ngày 02/8/2016. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2018/ST-HNGĐ ngày 20/7/2018 của TAND TP.Thanh Hóa, anh chị đã thỏa thuận giao cả hai con chung Phú K và Diệp C cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M .

Sau khi ly hôn anh M là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con theo thỏa thuận tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, các con được ăn học đầy đủ và phát triển bình thường. Đến nay, bản thân anh M vẫn tha thiết xin được trực tiếp nuôi con. Nguyện vọng của anh M là chính đáng và không trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện tại anh M đang phải chấp hành án tại Trại giam số 5 Bộ công an với mức án 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự số 285/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân TP.Thanh Hóa. Như vậy về thực tế anh M không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về quan điểm của anh M cho rằng tuy phải đi chấp hành án nhưng anh đã nhờ chị gái anh chăm sóc các con nên anh không đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con. Quan điểm của anh M là không phù hợp các quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72 - Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX không chấp nhận.

Để đảm bảo cuộc sống của hai con Phú K và Diệp C chị H yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và giao hai con chung Phú K và Diệp C cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy yêu cầu của chị H là chính đáng, có căn cứ, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con, phù hợp với nguyện vọng của các con, phù hợp với quy định tại Điều 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Xét thấy hiện tại anh M đang phải chấp hành án thời gian dài; Việc chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Anh M phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật TTDS; Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm b khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Bùi Thị H .

Giao hai con chung của chị H anh M là Nguyễn Phú K , sinh ngày 27/5/2013 và Nguyễn Diệp C , sinh ngày 02/8/2016 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H .

Anh Nguyễn Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm do yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị H được Tòa án chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hịên theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ