vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Sơn Thị T đối với bị đơn anh Thạch Sà R.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Sơn Thị T được ly hôn với anh Thạch Sà R. Về con chung: Giao con chung Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 cho chị Sơn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơn Thị T; BĐ Thạch Sà R"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Sơn Thị T đối với bị đơn anh Thạch Sà R.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 27/3/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lộc

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa

- T ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng - T ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/02/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Thạch Sà R, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp C, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2022 (BL01) biên bản ghi lời khai ngày 16/12/2022 (BL27) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Sơn Thị T trình bày: Vào năm 2013, chị T và anh R có tổ chức đám cưới đến năm 2015 có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/07/2015. Vào năm 2020 thì vợ chồng chị T phát sinh mâu thuẫn, tính tình hai người không hợp nhau, nên làm mất hạnh phúc gia đình, vợ chồng chị T đã ly thân từ đó cho đến nay. Chị T đã về sống với cha mẹ ruột chị T và không còn liên lạc qua lại với nhau nữa, mạnh ai nấy sống.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị T có 01 người con chung: Cháu Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành, nên chị T có yêu cầu giải quyết như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết được ly hôn với anh Thạch Sà R. Về con chung: Cháu Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 từ nhỏ đến lớn cháu sống cùng mẹ nên con sẽ do chị T nuôi, chị T không yêu cầu anh R cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết .

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh R, nhưng anh R không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời anh R cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh R; Về con chung: giao con chung Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu T nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu T có nguyện vọng sống chung với mẹ. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh R phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh R, nhưng anh R vẫn vắng mặt không có lý do, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh R theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 22/8/2022 chị Sơn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Thạch Sà R có nơi cư trú tại Ấp Xẻo Cóc, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị T, nhận thấy chị T và anh R tự nguyện sống chung với nhau năm 2013, đến năm 2015 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/07/2015. Quan hệ hôn nhân của chị T và anh R không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau Tờng hay xảy ra mâu thuẫn cải vã nhau. Chị T nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh R nên có nguyện vọng ly hôn. Chị T và anh R đã không còn chung sống với nhau khoảng từ năm 2020 cho đến nay từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm tR, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh R.

Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị T và anh R có 01 con chung tên cháu Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 hiện đang do chị T nuôi dưỡng, chị T có nguyện vọng được nuôi con và ý kiến trình bày của cháu T nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu T có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của cháu T không bị xáo trộn, để cháu phát triển bình Tờng về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Xét thấy, chị T hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Sơn Thị T đối với bị đơn anh Thạch Sà R.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Sơn Thị T được ly hôn với anh Thạch Sà R.

- Về con chung: Giao con chung Thạch Thị Nhã T (giới tính: nữ), sinh ngày 23/06/2015 cho chị Sơn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Anh Thạch Sà R không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh R không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thạch Thị Nhã T của chị Sơn Thị T thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Sơn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0004488, ngày 16/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã thực hiện xong. Anh Thạch Sà R không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ