- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Đặng Đức H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Đinh Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ - ST Ngày: 30 - 3 - 2023 V/v tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thùy Liễu.
2. Bà Ngô Thị Thời.
-Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân tp Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2023/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 19a/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; ĐKHKTT: phường H, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Tạm trú: phường H, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1975; ĐKHKTT: phường H, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: phường C, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Đinh Văn D sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện ĐKKH tại UBND phường Q, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngày 20 tháng 11 năm 2003. Sau ngày cưới vợ chồng được bố mẹ chồng mua nhà và đất tại đường 17, khu 5, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để ở. Đến năm 2021 vợ chồng bán nhà và đất đó đi và mua nhà và đất ở tại 31/37 Hàn Thượng, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để ở. Cả hai đều lao động tự do. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 18 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh D sống thiếu trách nhiệm còn xúc phạm tới chị và không chị ở cùng nhà. Do vậy, chị đã thuê nhà tại B, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để ở từ tháng 12/2022 cho tới nay. Trong thời gian chị ở thuê anh D không tìm gọi chị về để vợ chồng đoàn tụ. Nay chị xét thấy không thể tiếp tục chung sống được với anh D, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
Về con chung: Có hai con chung là Đinh Thanh X, sinh ngày 19/11/2004 và Đinh Nhật Đăng A, sinh ngày 05/3/2022. Hiện nay con X đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, con A hiện đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi con A và tự nguyện không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu hợp lệ cho bị đơn là anh Đinh Văn D và nhiều lần triệu tập anh D đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhưng anh D không đến Tòa án làm việc.
Tòa án cũng tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của chị N, anh D. Tại biên bản xác minh ngày 01/02/2023, ông trưởng khu dân cư số 3, phường Cẩm Thượng xác định: Anh D và chị N mới mua nhà tại khu dân cư số 3, hiện tại chỉ có anh D có mặt tại địa phương còn chị N đã thuê nhà ra chỗ khác ở, mâu thuẫn của anh chị đó như thế nào thì địa phương cũng không biết được. Nay chị N xin ly hôn với anh D đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09 tháng 3 năm 2023, anh D đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa: Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu giải quyết ly hôn với anh D và đề nghị được nuôi con Đinh Nhật Đăng A và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Anh D vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Trong thời hạn giải quyết vụ án, các bên đương sự không tự thỏa thuận được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đưa vụ án ra xét xử. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của BLTTDS; đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của BLTTDS. Tại phiên tòa, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị N, anh D là đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đinh Văn D; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi con Đinh Nhật Đăng A, sinh ngày 05/3/2022, chấp nhận sự tự nguyện của chị N, anh D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Anh Đinh Văn D đã được Tòa án giao thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh D vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đinh Văn D vắng mặt không có lý do, nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh D.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đinh Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Quang Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngày 20 tháng 11 năm 2003. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N anh D là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị N, biên bản xác minh tại địa phương có căn cứ xác định trong cuộc sống anh chị đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống, không tôn trọng nhau. Từ tháng 12/2022 đến nay, anh chị đã sống ly thân không ai có trách nhiệm với ai. Anh D cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị N, điều này thể hiện trong quá trình anh chị sống ly thân, cả hai không quan tâm đến nhau và anh D cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D đã nhiều lần được Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị N nhưng anh D không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ các điều: 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Đinh Văn D.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đinh Thanh X, sinh ngày 19/11/2004 và con Đinh Nhật Đăng A, sinh ngày 05/3/2022. Hiện nay con X đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N đề nghị được tiếp tục nuôi con Đinh Nhật Đăng A, HĐXX thấy rằng con A thuộc trường hợp pháp luật bắt buộc phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tại khoản 3 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình quy định "Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...". Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều nhưng anh Dũng không đến Tòa án làm việc và cũng không có quan điểm của mình. Như vậy, anh D đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, HĐXX thấy cần thiết tiếp tục giao con A cho chị N trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N, anh D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Như vậy là phù hợp các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Chị N, anh D đều không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Xử cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Đinh Văn D.
2. Về con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Đinh Nhật Đăng A, sinh ngày 05/3/2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N, anh D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) được đối trừ số tiền chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0002513 ngày 03/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Chị N nộp biên lai cho Tòa án ngày 04/01/2023).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tp Hải Dương; - Các đương sự; - UBND phường Q; - Chi cục THADS tp. Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú |