vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc A được ly hôn chị Phạm Thùy L. Về con chung: Anh Nguyễn Quốc A và chị Phạm Thùy L có 02 con chung. Giao anh Quốc A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Kiều V – sinh ngày 02/10/2019 và Nguyễn Kiều T – sinh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Anh + Linh"
  • Tòa quyết gì? về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-4-2023
V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc A - sinh năm 1999 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã Q1, huyện Ư, thành phố Hà Nội

* Bị đơn: Chị Phạm Thùy L - sinh năm 1999 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã Q1, huyện Ư, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa anh Nguyễn Quốc A là nguyên đơn trình bày: anh và chị Phạm Thùy L qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q1 năm 2019. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau. Bản thân chị L còn có quan hệ tình cảm với những người con trai khác. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2022. Trong thời gian sống ly thân; không ai quan tâm đến ai; cuộc sống hôn nhân cũng không cải thiện được. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên anh cương quyết xin ly hôn chị L. Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Kiều V – sinh ngày 02/10/2019 và Nguyễn Kiều T – sinh ngày 16/3/2021. Hiện hai cháu đang ở với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa giải quyết cho anh được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con. Vì: khi bắt đầu ly thân, chị L đưa cháu thứ hai theo nhưng không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc mà gửi người dân nuôi; xong không thăm con và gửi tiền trông con nên người trông con anh đã phải báo về Công an xã Q1; gia đình anh đã phải làm việc với công an và gửi trả cho người chăm sóc cháu 20.000.000đ mới đón con về nuôi được. Trong thời gian sống ly thân chị L chưa một lần gọi điện, về thăm con cũng như có trách nhiệm về kinh tế đối với các con. Bản thân anh có nhà cửa ổn định, hiện tại anh đang làm bếp thuê có thu nhập ổn định trong khi chị L không có nhà cửa, công việc thì anh không rõ. Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

Bị đơn chị Phạm Thùy L không có ý kiến, đề nghị gì.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc A có mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Bị đơn chị Phạm Thùy L vắng mặt, không nộp tài liệu chứng cứ nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho anh Nguyễn Quốc A được ly hôn chị Phạm Thùy L. Về con chung, giao anh Quốc A là người trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tất cả 02 con là cháu Nguyễn Kiều V – sinh ngày 02/10/2019 và Nguyễn Kiều T – sinh ngày 16/3/2021; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có thay đổi khác; chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai cản trở. Anh Quốc A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng:

Về thực hiện tố tụng của Tòa án:

Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Quốc A có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho chị được ly hôn chị Phạm Thùy L và nuôi con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị

đơn là chị Phạm Thùy L có đăng ký nơi cư trú: thôn Quảng Nguyễn, xã Q1, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập chị Phạm Thùy L đến Toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị L đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 29/3/2023 nhưng vắng mặt của chị L nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai chị L vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đốivớivụán.

Về chứng cứ: Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và các tài liệu được công bố tại phiên tòa; các đương sự đều xác nhận các tài liệu giao nộp đầy đủ trong hồ sơ vụ án, không còn tài liệu chứng cứ nào khác cần bổ sung. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc A và chị Phạm Thùy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q1, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội ngày 18/10/2019 là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì xảy ra muân thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung nên cuộc sống hôn nhân của hai anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân một năm . Trong thời gian sống ly thân, không ai quan tâm đến ai; không có trách nhiệm với nhau. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng anh Quốc A và chị L liên tục xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có niềm tin với nhau. Vợ chồng đã ly thân một thời gian khá lâu. Nay anh Quốc A có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Xét thấy: Cuộc sống giữa anh Quốc A và chị L mẫu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Quốc A là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh Nguyễn Quốc A và chị Phạm Thùy L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kiều V – sinh ngày 02/10/2019 và Nguyễn Kiều T – sinh ngày 16/3/2021.

Xét về tính ổn định, môi trường sinh hoạt cũng như tuổi của các cháu thì Hội đồng xét xử thấy: hai cháu đang ở ổn định với anh Quốc A. Anh Quốc A làm đầu bếp có mức thu nhập bình quân là 7.000.000đ/tháng nên anh Quốc A có công việc ổn định, có thu nhập. Mặc dù cháu T dưới 36 tháng tuổi nhưng bản thân chị L thiếu trách nhiệm đối với con khi bế con đi gửi trẻ mấy tháng không trông nom, nuôi dưỡng con phải để UBND xã can thiệp thì gia đình anh Quốc A mới đón cháu T về nuôi dưỡng. Vì vậy, không thể giao cháu T cho chị L nuôi dưỡng. Đồng thời, chị L không có công việc ổn định; kể từ khi ly thân, chị L không quan tâm, thăm nom các con. Đồng thời, chính quyền địa phương cũng có quan điểm đề nghị Tòa căn cứ thực tế giải quyết để đảm bảo sự ổn định và quyền lợi, sự phát triển của trẻ em để anh Quốc A nuôi dưỡng cả hai cháu. Vì vậy, giao anh Quốc A nuôi cả hai cháu là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Quốc A không đề nghị chị L cấp dưỡng tiền nuôi con nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có thay đổi khác; chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung: Anh Nguyễn Quốc A không đề nghị Tòa giải quyết, chị Phạm Thùy L không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc A phải nộp án phí ly hôn và các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc A được ly hôn chị Phạm Thùy L.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Quốc A và chị Phạm Thùy L có 02 con chung. Giao anh Quốc A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Kiều V – sinh ngày 02/10/2019 và Nguyễn Kiều T – sinh ngày 16/3/2021; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có thay đổi khác. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ chung: Anh Nguyễn Quốc A và chị Phạm Thùy L đều không yêu cầu Toà giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Quốc A phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0057861 ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ