- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huệ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố Căn cứ Nghị Quyết; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật tố Căn cứ Nghị Quyết
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày 28- 02 - 2023 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Lê Thị Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 76/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022, về việc ''Tranh chấp hôn nhân và gia đình'', theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1981;
HKTT: Thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi ở hiện nay: Khu Sơn, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1980;
HKTT: Thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huệ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1980; HKTT: Thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 15/11/2007 tại UBND phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau ngày cưới chị có về làm dâu nhà anh Tài, chung sống với bố mẹ chồng tại thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Tài thường xuyên đi uống rượu, mỗi lần đi uống rượu về thì hay kiếm chuyện để gây sự chửi bới chị và các con, ngoài ra anh Tài còn đánh đập chị khiến chị sợ hãi. Mặt khác anh Tài hay chơi cờ bạc, lô đề và không chăm lo cho gia đình, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Tài tính gia trưởng, không nghe lời, không thay đổi. Đến khoảng tháng 01/2022 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị không chịu được nên đã mang theo 02 con về nhà bố mẹ đẻ ở tại phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Từ đó đến nay vợ chồng ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Trong quá trình ly thân vợ chồng không có biện pháp gì về để đoàn tụ. Mâu thuẫn hai bên gia đình có biết, có khuyên cho vợ chồng về với nhau nhưng không được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tài.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo, sinh ngày 15/08/2008 và cháu Nguyễn Huy Chiến, sinh ngày 07/05/2012, hiện cả 02 con đang ở với chị tại nhà bố mẹ đẻ của chị. Khi ly hôn, chị xin nuôi cả 02 con chung; về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về chỗ ở: Chị hiện nay đang ở cùng với bố mẹ đẻ, trường hợp sau khi ly hôn bố mẹ chị đồng ý cho chị và cháu ở cùng. Về thu nhập: Chị làm thủ kho tại công ty TNHH Xây dựng Đồng Nguyên, lương tháng 15.000.000 đồng/1 tháng đủ nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra chị không có ý kiến gì khác.
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Huy Tài trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị Nguyễn Thị Huệ về thời điểm, điều kiện kết hôn như chị Huệ trình bày là đúng. Sau ngày cưới chị Huệ có về làm dâu nhà anh, vợ chồng ăn chung một thời gian sau đó ăn riêng, tại thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Trong quá trình chung sống từ khi kết hôn đến nay hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 12/2021, sau đó tháng 01/2022 chị Huệ mang cả 02 con bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở, hai vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị Huệ làm đơn xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn với chị Huệ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị Huệ trình bày là đúng, hiện cả 02 người con đang ở với chị Huệ. Khi ly hôn anh nhận nuôi cháu Nguyễn Huy Chiến, còn để cho chị Huệ nuôi cháu Nguyễn Thị Phương Thảo. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chỗ ở: Anh hiện nay đang ở cùng bố mẹ, về thu nhập: Anh là lái xe tự do, không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì cho Toà án.
Về tài sản chung và công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Toà án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ, xử cho chị Nguyễn Thị Huệ được ly hôn với anh Nguyễn Huy Tài.
Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo, sinh ngày 15/08/2008 và cháu Nguyễn Huy Chiến, sinh ngày 07/05/2012 cho chị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Huệ có đơn xin ly hôn, theo đúng mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Anh Nguyễn Huy Tài có địa chỉ tại thôn Tử Nê, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
. Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Huệ và anh Nguyễn Huy Tài kết hôn vào ngày 15/11/2007 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Khi kết hôn anh chị đủ điều kiện và tuân thủ đúng quy định pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huệ và anh Nguyễn Huy Tài là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị Huệ cho rằng vợ chồng sống không hoà thuận đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân là do anh Tài thường xuyên uống rượu, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình và nhiều khi còn đánh đập chị, chửi bới chị và các con. Còn anh Nguyễn Huy Tài cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và thường xuyên xảy ra cãi vã.
Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Huệ và anh Nguyễn Huy Tài đều xác nhận đến nay không còn tình cảm vợ chồng và thống nhất ly hôn với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị Huệ và anh Tài xảy ra tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức. Chị Nguyễn Thị Huệ làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Huy Tài là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ, xử cho chị Nguyễn Thị Huệ được ly hôn với anh Nguyễn Huy Tài.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo, sinh ngày 15/08/2008 và cháu Nguyễn Huy Chiến, sinh ngày 07/05/2012, hiện cả 02 con chung đang ở với chị Huệ. Trường hợp ly hôn chị Huệ xin nuôi cả 02 người con chung, còn anh Tài xin nuôi cháu Nguyễn Huy Chiến. Về điều kiện chỗ ở: Chị Huệ và anh Tài đều đang ở với bố mẹ đẻ, chị Huệ đã được bố mẹ đẻ xác nhận về việc sau khi ly hôn thì sẽ cho chị Huệ và hai cháu về ở chung. Anh Tài hiện đang ở cùng bố mẹ, tuy nhiên không có xác nhận của gia đình về điều kiện chỗ ở.
Về thu nhập: Chị Huệ hiện đang làm thủ kho tại công ty TNHH Xây dựng Đồng Nguyên, thu nhập 15.000.000 đồng/1 tháng và được Công ty Xây dựng Đồng Nguyên xác nhận, Toà án yêu cầu chứng minh thu thập tuy nhiên anh Tài khai là lái xe, lao động tự do, không chứng minh được công việc ổn định và thu nhập của bản thân, không có xác nhận của chính quyền địa phương.
HĐXX xét thấy việc giao con chung cho ai cần đảm bảo cho các cháu có được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập tốt nhất và ổn định nhất. Khi ly hôn chị Huệ xin nuôi cả 02 con chung còn anh Tài xin nuôi cháu Nguyễn Huy Chiến. Toà án tiến hành lấy lời khai của các cháu Chiến, Thảo và tại phiên toà các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị Huệ, cháu Chiến rất sợ ở với bố do bố uống rượu về hay quát mắng cháu. HĐXX xét thấy về điều kiện về chỗ ở và thu nhập của Huệ là tốt hơn anh Tài. Ngoài ra từ khi ly thân cho đến nay thì chị Huệ một mình nuôi dưỡng và dạy dỗ cháu Thảo và cháu Chiến và hiện nay cả 02 cháu đang sống ở với chị tại nhà ông bà ngoại, cháu Nguyễn Huy Chiến hiện đang học tập tại Trường tiểu học phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Để ổn định cuộc sống cũng nhưng không làm ảnh hưởng đến việc học tập của các cháu, HĐXX quyết định giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo và cháu Nguyễn Huy Chiến cho chị Huệ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Tài được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ. Chị Nguyễn Thị Huệ được ly hôn với anh Nguyễn Huy Tài.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo, sinh ngày 15/08/2008 và cháu Nguyễn Huy Chiến, sinh ngày 07/05/2012 cho chị Nguyễn Thị Huệ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị Huệ đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0002297 ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du).
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - UBND phường Khắc Niệm; - VKS huyện Tiên Du; - THA DS huyện Tiên Du; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. định. Bởi các lẽ trên; tụng dân sự; quy định về án phí, lệ phí Toà án; Tuyên xử: Chị Nguyễn Thị Huệ được ly hôn với anh Nguyễn Huy Tài. Huệ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Toà án giải quyết. gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. quyết. AA/2021/0002297 ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du). 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Các Hội thẩm nhân dân Lê Thị Xuân Trần Quang Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Mạnh [5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy QUYẾT ĐỊNH Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố Căn cứ Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thảo, sinh ngày 15/08/2008 và cháu Nguyễn Huy Chiến, sinh ngày 07/05/2012 cho chị Nguyễn Thị Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị Huệ đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Mạnh |