vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L.

Về nuôi con chung: Ghi nhận 02 con chung Nguyễn Quốc K, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị O, sinh năm 2004, đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà Trần Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị P - Nguyễn Thái L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 3 - 2023
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Tấn Lợi;

2. Bà Lý Thị Mỹ Diệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Tổ 5, ấp T, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thái L, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Tổ 5, ấp T, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 8 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thái L sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó năm 2018 không còn hạnh phúc nữa do phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên gây gỗ với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay, bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thái L.

Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung gồm: Nguyễn Quốc K, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị O, sinh năm 2004, các con chung đã trưởng thành, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Thái L đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị P là nguyên đơn, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Thái L là bị đơn, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông L là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L là vợ chồng.

Về nuôi con chung: 02 con chung Nguyễn Quốc K, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị O, sinh năm 2004 đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị P là nguyên đơn, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Thái L là bị đơn vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông L.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L chung sống với nhau vào từ năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Xét việc sống chung với nhau như vợ chồng của bà P, ông L không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do vậy, căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị P và ông Nguễn Thái L.

Về nuôi con chung: Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L có 02 con chung gồm Nguyễn Quốc K, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị O, sinh năm 2004 đã trưởng thành, bà P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L.

2. Về nuôi con chung: Ghi nhận 02 con chung Nguyễn Quốc K, sinh năm 2002 và Nguyễn Thị O, sinh năm 2004, đã trưởng thành, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà Trần Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà P đã nộp tại biên lai thu số 0007636 ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận, bà P đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Thái L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ