vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Ngô Tuấn A.

Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Ngô Trí D, sinh ngày 05/12/2020 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị T- Ngô Tuấn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Ngô Tuấn A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TD
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ - ST
Ngày 31-5-2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Duyên

2. Bà Nguyễn Thị Nghị

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Lăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mậu Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 278/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố CH, thị trấn HS, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt);

Bị đơn: Anh Ngô Tuấn A, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu 5, xã HH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 8 năm 2022, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hà Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh Ngô Tuấn A vào ngày 27/11/2019. Trước khi kết hôn, anh, chị được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu và chung sống với gia đình anh Tuấn A. Quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng tháng 3/2020, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Tuấn A thường xuyên rượu chè, chơi bời, không quan tâm đến vợ con, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, anh Tuấn A đã đánh chị. Chị chuyển về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 7/2021, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không có dàn xếp gì. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Tuấn A.

Về con chung: Chị và anh Ngô Tuấn A có 01 con chung là cháu Ngô Trí D, sinh ngày 05/12/2020, hiện nay cháu D đang ở với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D. Chị không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ, công sức và đất canh tác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Ngô Tuấn A mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập của Tòa án, được Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, anh Ngô Tuấn A đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Ngô Tuấn A cũng như việc tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật. Anh Ngô Tuấn A không có yêu cầu phản tố, cũng không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Tòa án tiếp tục xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục chung đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T, cho chị T được ly hôn anh Ngô Tuấn A. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Trí D, sinh ngày 05/12/2020 cho chị Hà Thị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Ngô Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Hà Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện TD giải quyết tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung với anh Ngô Tuấn A có địa chỉ tại Khu 5, xã HH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TD theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Ngô Tuấn A đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc thuộc trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai về việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Ngô Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị T và anh Ngô Tuấn A là hợp pháp. Quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Tuấn A không chịu chỉn chu làm ăn dẫn đến vợ chồng cãi nhau, chị T và con về nhà mẹ đẻ chị ở từ tháng 7/2021, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không dàn xếp gì. Trong thời gian ly thân, cả hai bên đều không có biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng vợ chồng giữa chị T và anh Tuấn A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị T xin ly hôn anh Tuấn A là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh Tuấn A có 01 con chung là cháu Ngô Trí D, sinh ngày 05/12/2020, hiện nay cháu D đang ở với chị Trang. Xét thấy cháu D còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, anh Tuấn A vắng mặt nên không rõ quan điểm của anh Tuấn A như thế nào. Vì vậy cần giao cháu D cho chị T được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu anh Tuấn A phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ, công sức và đất canh tác: Anh Ngô Tuấn A vắng mặt, Tòa án không lấy được lời khai của anh Tuấn A nên không xác định được anh Tuấn A, chị T có tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ, đất canh tác hay không và quan điểm của anh Tuấn A như thế nào nên cần tách ra khi nào đương sự có yêu cầu thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Ngô Tuấn A.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Ngô Trí D, sinh ngày 05/12/2020 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0003230 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ