vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Bùi Xuân H.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010871 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Bùi Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/7/2023
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và ông Đoàn Như Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải

Ngày 11 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm: 1976

Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Bùi Xuân H– sinh năm: 1972

Địa chỉ: Tổ 3, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi làm việc: Trại giam Gia Trung, C10, Bộ Công an – xã Đak Ta Ley, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai . (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị H và ông Bùi Xuân H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H’ra, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai vào ngày 26/12/2000. Trong thời gian chung sống, vợ chồng mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, xô xát. Lý do cả hai không cùng tiếng nói chung dẫn đến không có sự tôn trọng chia sẻ cùng nhau. Bà Nguyễn Thị H đã gửi đơn đến Công an thị trấn cũng như tổ hòa giải địa phương để can thiệp nhưng mâu thuẫn giữa ông bà vẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện bà đã dọn ra ngoài ở riêng để tránh tranh cãi với ông H. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc và không thể kéo dài thêm nên bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Xuân H.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Bùi Đức M – sinh ngày: 01/7/2001 và Bùi Đức H – sinh ngày: 11/3/2003. Các con đã thành niên có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Bùi Xuân H đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có mặt tại các phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án. Ông thừa nhận trong thời gian chung sống, vợ chồng không tránh khỏi mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ ông ích kỷ cố chấp còn ông nóng tính, vì vậy cả hai thường xúc phạm lẫn nhau. Tuy nhiên ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng chăm lo cho các con. Ông không đồng ý ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn ông Bùi Xuân H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Ông Bùi Xuân H và Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 2000 có đăng ký theo quy định pháp luật. Điều này phù hợp với Trích lục kết hôn số 86/TLKH-BS do UBND xã H’ra, huyện Mang Yang cấp ngày 10/11/2019 do nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông Bùi Xuân H có nơi thường trú tại tổ 3, phường Thắng Lợi, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, nhưng ông hiện đang làm việc tại trại giam Gia Trung, xã Đăk Ta Ley, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và xác nhận tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, ông bà thường phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, đã được chính quyền hòa giải tại địa phương. Hiện tại bà Nguyễn Thị H đã dọn ra ngoài ở riêng. Ông Bùi Xuân H không đồng ý ly hôn, mong muốn được hàn gắn. Tòa án đã cho các bên thời gian cũng như tổ chức hòa giải để các đương sự đoàn tụ nhưng ông Bùi Xuân H không đến Tòa án để tham gia hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn . Như vậy giữa các bên không có thiện chí thay đổi và đoàn tụ với nhau. Xét thấy các bên đã không còn sự tôn trọng, gắn bó, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Bùi Xuân H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông Bùi Xuân H và Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Bùi Xuân H và Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Bùi Xuân H.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010871 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/7/2023), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ