vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vỏ Tuấn A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T. Về con chung: Anh Vỏ Tuấn A được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Vỏ Anh K (giới tính nam), sinh ngày 04/7/2013. Anh Vỏ Tuấn A chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Chị Nguyễn Thị Ngọc T có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08 – 3 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vỏ Tuấn A, sinh năm: 1993 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2013 anh Vỏ Tuấn A và chị Nguyễn Thị Ngọc T tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 20/8/2013. Hôn nhân do vợ chồng cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng dần về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Vỏ Tuấn A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T.

Về con chung: Anh Vỏ Tuấn A và chị Nguyễn Thị Ngọc T có 01 con chung tên Vỏ Anh K (giới tính nam), sinh ngày 04/7/2013, hiện nay đang sống chung với anh Tuấn A nên anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Nguyễn Thị Ngọc T nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vỏ Tuấn A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T. Về con chung anh Vỏ Tuấn A được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Vỏ Anh K (giới tính nam), sinh ngày 04/7/2013. Anh Vỏ Tuấn A chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Chị Nguyễn Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.

Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn và dành quyền kháng cáo cho bị đơn theo luật định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vỏ Tuấn A và chị Nguyễn Thị Ngọc T tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 20/8/2013 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của anh Vỏ Tuấn A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc và có con chung nhưng dần về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh Tuấn Anh và chị T đã ly thân kéo dài từ năm 2019 đến nay. Tại phiên tòa, anh Tuấn Anh cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị T. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vỏ Tuấn A.

Về con chung: Anh Vỏ Tuấn A và chị Nguyễn Thị Ngọc T có 01 con chung tên Vỏ Anh K (giới tính nam), sinh ngày 04/7/2013, hiện nay đang sống chung với anh Tuấn A nên anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi anh Tuấn A và chị T ly thân cho đến nay anh Tuấn A là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Mặc khác, tại bản tự khai cháu K có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với cha (anh Tuấn A). Quá trình giải quyết vụ án chị T không có ý kiến phản đối về việc anh Tuấn A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Vỏ Anh K nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Vỏ Anh K cho anh Vỏ Tuấn A tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Vỏ Tuấn A chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Chị Nguyễn Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Vỏ Tuấn A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A.

2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vỏ Tuấn A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T.

3. Về con chung: Anh Vỏ Tuấn A được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Vỏ Anh K (giới tính nam), sinh ngày 04/7/2013. Anh Vỏ Tuấn A chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Chị Nguyễn Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Vỏ Tuấn A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Vỏ Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Tuấn A đã nộp theo lai thu số 0004435, lập ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

6. Nguyên đơn Vỏ Tuấn A có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.

Cỡ chữ