vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Thế H.

Về án phí: Buộc chị Hà Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005466 ngày 12/10/2022 của Chi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Thế H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04 – 4 - 2023
“V/v Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dậu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trí Thuyết

2. Ông Siu Tơ Lul

- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Thị Mỹ Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 193/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Ngọc H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện S, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Thế H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện S, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Thị Ngọc Huyền trình bày:

Chị và anh Trần Thế H qua tìm hiểu đã tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai vào ngày 19/9/2018. Thời gian đầu sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, căng thẳng kéo dài nên không có hạnh phúc. Hiện nay nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Trần Thế H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh H không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Thế H từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà, anh H tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của người tiến hành tố tụng.

Về việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng theo giấy triệu tập của tòa án, không cung cấp chứng cứ gì cho tòa án, thể hiện thái độ không hợp tác, không tôn trọng pháp luật và mặc nhiên từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 36, 39, và khoản 4 Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Hà Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Thế H. Về án phí: Buộc chị Hà Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Ngày 03/10/2022, nguyên đơn chị Hà Thị Ngọc H có đơn khởi kiện “Ly hôn” với bị đơn anh Trần Thế H và nộp kèm các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Xét hình thức nội dung đơn khởi kiện của chị Hà Thị Ngọc H đúng quy định, anh Trần Thế H có nơi cư trú tại thôn K, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Trần Thế H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa thứ hai không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

, Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hà Thị Ngọc H và anh Trần Thế H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai ngày 19/9/2018. Quan hệ hôn nhân của anh chị được xác lập trên cơ sở tự nguyện và đảm bảo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H thì thấy rằng: Qua lời trình bày của chị H thì trong quá trình chung sống, giữa chị và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, thường nảy sinh tranh cãi nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Do anh H không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh H đối với yêu cầu khởi kiện của chị H và cũng không thể làm rõ những mâu thuẫn hôn nhân của anh chị. Tuy nhiên, Việc anh H vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm, không có ý thức hàn gắn những mâu thuẫn của vợ chồng.

Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, động viên chị H rút đơn khởi kiện xin ly hôn để quay về đoàn tụ với anh H nhưng chị H kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với lý do vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng từ lâu, bản thân chị hiện không còn tình cảm với anh H. Anh H thì vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không có điều kiện để hòa giải, động viên anh chị quay về đoàn tụ.

Hội đồng xét xử xét thấy: chị H và anh H không ai còn quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Ngọc H với anh Trần Thế H.

. Về con chung: Anh chị không có con chung nên miễn xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Hà Thị Ngọc H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 19, 21, 51, 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Thế H.

2. Về án phí: Buộc chị Hà Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005466 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Hà Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh Trần Thế H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ