- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Phi C yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Phi C được ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-3-2023 “V/v ly hôn với người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thị Hạnh;
Ông Bùi Huy Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phi C, sinh năm 1982; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 4, thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1982; (Vắng mặt, đã bị tuyến bố mất tích).
Nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã N, huyện C, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc, nguyên đơn ông Nguyễn Phi C, trình bày: Ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị Đ tìm hiểu nhau rồi đi đến kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2003 nhưng đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh B1. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, bà Đ thường xuyên bỏ nhà ra đi, không quan tâm đến ông C. Mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn được và tháng 12 năm 2017 bà Đ đã bỏ nhà ra đi, từ đó đến nay không có tin tức gì và ông C, bà Đ đã ly thân từ đó đến nay.
Sau khi bà Đ bỏ nhà ra đi thì ông C có làm hồ sơ tuyên bố bà Đ mất tích và Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã có quyết định số 24/2022/QĐST-VDS, ngày 25/7/2022 tuyên bố bà Đ mất tích.
Nay ông C cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với người mất tích bà Nguyễn Thị Đ.
Về con chung: Ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị Đ không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Phi C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyên bố mất tích nên không thể ghi nhận lời khai, ý kiến của bà Đ và không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Phi C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, nay ông C xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ có nơi cư trú cuối cùng tại xã N, huyện C, tỉnh B, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Phi C vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Đ đã bị Tòa án tuyên bố mất tích vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bà Đ và ông C.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị Đ tìm hiểu nhau rồi đi đến kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2003 nhưng đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh B1 nên hôn nhân của ông C và bà Đ là hợp pháp.
Thời gian đầu chung sống vợ chồng giữa ông C và bà Đ hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, bà Đ thường xuyên bỏ nhà ra đi, không quan tâm đến ông C. Mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn được và tháng 12 năm 2017 bà Đ đã bỏ nhà ra đi từ đó đến nay không có tin tức gì, ông C và bà Đ cũng ly thân từ đó đến nay.
Quyết định giải quyết việc dân sự số 24/2022/QĐST-VDS, ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ mất tích, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật.
Xét hôn nhân giữa ông C và bà Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, hôn nhân chỉ còn trên danh nghĩa, nên cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, xử cho ông C được ly hôn với bà Đ.
Về con chung: Ông Nguyễn Phi C và bà Nguyễn Thị Đ không có con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Phi C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.
Về án phí: Ông Nguyễn Phi C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40 Điều 147, và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Phi C được ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ.
Về con chung: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Phi C phải nộp 300.000đ (bà trăm ngàn đồng) tiền án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000904, ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông Nguyễn Phi C đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/3/2023) các đương sự được quyền kháng cáo. Đối với những đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TA Tỉnh; - VKSND huyện Châu Đức; - THADS huyện Châu Đức; - UBND xã Thạnh Phong, H. Thạnh Phú, Bến Tre; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Văn Tiến |