vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Thu Chan được ly hôn anh Nguyễn Văn Dương.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu Chan được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Anh Dươnkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Chan . Các bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Trần Thị T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chang - Dương"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Thu Chan được ly hôn anh Nguyễn Văn Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ - ST
Ngày 12- 5 - 2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Thái

2. Bà Lê Thị Bích Thuần

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/2022/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu Chan, sinh năm 1998;

Nơi ĐKHKTT: Thôn Thiện , xã Thiện , huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi ở hiện tại: Khu Ánh , xã Hùng , huyện Đoan, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1991;

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Thiện , xã Thiện , huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 11 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu Chan trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Dươn kết hôn với nhau vào ngày 22 tháng 9 năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, chị về gia đình anh Dươnlàm dâu ngay và sống chung cùng với gia đình anh Dươntại Thôn Thiện , xã Thiện , huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì. Sau khi kết hôn được khoảng 01 năm vợ chồng có những mâu thuẫn nhỏ. Tuy nhiên, từ tháng 10 năm 2022, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra cãi nhau, thậm chí đánh nhau. Do đó, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 10 năm 2022, chị đã về nhà mẹ đẻ chị ở và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay. Hai bên gia đình đã khuyên bảo để vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Nhưng chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Dương.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Hiện nay, cháu Huy đang ở với anh Dương. Ly hôn nguyện vọng của chị là được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Gia Huy, chị không yêu cầu anh Dươnphải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Dươnvắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 15 tháng 11 năm 2022 anh trình bày: Anh thừa nhận thời gian đăng ký kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống như chị Chan trình bày ở trên là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra cãi nhau, thậm chí đánh nhau. Do đó, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 10 năm 2022, chị Chan đã về nhà mẹ đẻ chị ở và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay. Hai bên gia đình đã khuyên bảo để vợ chồng về đoàn tụ với nhau, cùng nhau nuôi dạy con chung, tuy nhiên chị Chan không về. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị Chan nên đề nghị Tòa án cho anh thêm thời gian 02 tháng để anh thay đổi, sửa chữa và khuyên chị Chan về đoàn tụ với anh để cùng nhau nuôi dạy con chung. Sau 02 tháng nếu chị Chan không về đoàn tụ với anh thì anh cũng đồng ý và thống nhất ly hôn với chị Chan .

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Hiện nay, cháu Huy đang ở với anh. Ly hôn anh đồng ý với quan điểm của chị Chan là để chị Chan được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia Huy. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Chan . Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng mối quan hệ có tranh chấp, xác định đúng tư cách đương sự, lập hồ sơ vụ án, cho các đương sự trình bày đầy đủ, lập biên bản giao nhận các văn bản tố tụng, tống đạt thông báo thụ lý, ra quyết định xét xử, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo thời gian đúng quy định, việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận cho chị Trần Thị Thu Chan được ly hôn anh Nguyễn Văn Dương.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu Chan được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Anh Dươnkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Chan và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Thị Thu Chan khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn Dươnvà đề nghị giải quyết nuôi dưỡng con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Văn Dươnhiện đang có hộ khẩu thường trú ở xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên. Ngày 14 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã mở phiên tòa lần thứ nhất theo quy định, anh Dươnvắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án đã hoãn phiên tòa. Ngày 12 tháng 5 năm 2023, Tòa án tiếp tục mở lại phiên tòa, anh Dươnđã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của các đương sự và lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn thể hiện. Việc kết hôn giữa chị Trần Thị Thu Chan và anh Nguyễn Văn Dươntrên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh chị Chan và anh Dươnlà hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Khoảng 01 năm sau khi kết hôn vợ chồng có những mâu thuẫn nhỏ. Tuy nhiên, từ tháng 10 năm 2022, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra cãi nhau, thậm chí đánh nhau. Từ tháng 10 năm 2022 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị Thu Chan vẫn giữ quan điểm xin ly hôn anh Nguyễn Văn Dương. Về phía anh Dươnquá trình giải quyết vụ án đã trình bày: Anh vẫn còn tình cảm với chị Chan nên đề nghị Tòa án cho anh thêm thời gian 02 tháng để anh thay đổi, sửa chữa và khuyên chị Chan về đoàn tụ với anh để cùng nhau nuôi dạy con chung. Sau 02 tháng nếu chị Chan không về đoàn tụ với anh thì anh cũng đồng ý và thống nhất ly hôn với chị Chan . Tòa án đã tạo điều kiện thời gian cho anh chị đoàn tụ nhưng anh Dươnkhông có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng, từ tháng 10 năm 2022 đến nay chị Chan và anh Dươnđã sống ly thân với nhau, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc gì cho nhau, theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Chan và anh Dươnđã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chan với anh Dươnđể mỗi bên tạo lập cuộc sống mới như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Thu Chan và anh Nguyễn Văn Dươncó 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Hiện nay, cháu Huy đang ở với anh anh Dương. Ly hôn nguyện vọng của chị Chan là được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia Huy và không yêu cầu anh Dươnphải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chị Chan có thu nhập ổn định lương từ 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng nên đảm bảo việc nuôi con tốt về mọi mặt, do vậy cần giao cháu Huy cho chị Chan trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau ly hôn; anh Dươnkhông phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Chan và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.

Về tài sản: Chị Trần Thị Thu Chan và anh Nguyễn Văn Dươnđều không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Thu Chan phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Thu Chan được ly hôn anh Nguyễn Văn Dương.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu Chan được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2021. Anh Dươnkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Chan . Các bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Trần Thị Thu Chan phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004061 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Bình Xuyên; chị Trần Thị Thu Chan đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ