- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xử cho ly hôn ly giữa chị Sần Chê S và anh Phu Thó E"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Sần Chê S và anh Phu Thó E.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày 19 - 05 - 2023 V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Trúc
2. Bà Tưởng Thị Tuyết
Thư ký phiên toà: Bà Thào Thị Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
Ngày 19/05/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 15/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 03 năm 2023 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 04 năm 2023 và quyết đinh hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐST- DS ngày 27 tháng 04 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Sần Chê S - Sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai.
2. Bị đơn: anh Phu Thó E - Sinh năm 1999
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Sần Chê S trình bày: Chị Sần Chê S và anh Phu Thó E về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018. Đến ngày 20/02/2020 chị Sần Chê S và anh Phu Thó E mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị Sần Chê S và anh Phu Thó E chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong làm ăn kinh tế nuôi dậy con cái, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, không tôn trọng nhau. Chị Sần Chê S và anh Phu Thó E đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai, chị Sần Chê S không có việc làm ổn định đi làm ăn nay đây mai đó. Đến nay chị Sần Chê S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Sần Chê S được ly hôn anh Phu Thó E.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Sần Chê S và anh Phu Thó E có một người con chung cháu Phu Trung H- sinh ngày 24/8/2018. Khi ly hôn chị Sần Chê S có nguyện vọng để anh Phu Thó E là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Phu Trung H cho đến khi cháu Hiếu đủ 18 tuổi. Hiện nay cháu Phu Trung H đang ở với anh Phu Thó E, anh Phu Thó E có điều kiện về kinh tế và có nhà ở ổn định, chị Sần Chê S không có công việc ổn định cũng như nhà ở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do không có công việc ổn định vì vậy chị Sần Chê S không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phu Thó E.
- Về tài sản: Chị Sần Chê S và anh Phu Thó E tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn anh Phu Thó E: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án cho anh Phu Thó E nhưng anh Phu Thó E đã từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án ,Tòa án đã tiến hành mời ông Chu Che Xá trưởng Thôn L, xã Y đến nhà anh Phu Thó E chứng kiến và lập biên bản về việc anh Phu Thó E từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và anh Phu Thó E cũng không có văn bản, hay ý kiến trả lời về việc chị Sần Chê S có đơn xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, anh Phu Thó E cũng không đến toà án làm bản tự khai và không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Sần Chê S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Phu Thó E có địa chỉ tại Thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn chị Sần Chê S không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Sần Chê S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phu Thó E vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Sần Chê S và anh Phu Thó E theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Sần Chê S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phu Thó E.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Sần Chê S và anh Phu Thó E đã về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018. Đến ngày 20/02/2020 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn chị Sần Chê S về sinh sống tại nhà của anh Phu Thó E. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, thiếu sự tôn trọng, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc.Từ tháng 02 năm 2021 chị Sần Chê S và anh Phu Thó E sống ly thân, không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm và kinh tế. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị Sần Chê S và anh Phu Thó E đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Sần Chê S đối với anh Phu Thó E.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống chị Sần Chê S và anh Phu Thó E có một người con chung cháu Phu Trung H- sinh ngày 24/8/2018. Khi ly hôn chị Sần Chê S có nguyện vọng để anh Phu Thó E là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Phu Trung H đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chị Sần Chê S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phu Thó E.
Xét việc giao nuôi con thì chị Sần Chê S có nguyện vọng để anh Phu Thó E là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Phu Trung H đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Việc nuôi con khi thông báo tiếp cận công khai chứng cứ cũng đã ghi quan điểm của chị Sần Chê S về việc để anh Phu Thó E nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Phu Trung H, sinh ngày 24/8/2018 và chị Sần Chê S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phu Thó E, anh Phu Thó E không có ý kiến gì cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Chị Sần Chê S không có việc làm ổn định đi làm ăn nay đây mai đó, không có nhà ở, anh Phu Thó E có nhà ở ổn định tại Thôn L, xã Y hiện nay cháu Phu Trung H đang ở cùng anh Phu Thó E. Vì vậy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình giao cháu Phu Trung H cho anh Phu Thó E nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Sần Chê S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phu Thó E.
Về tài sản chung: Chị Sần Chê S và anh Phu Thó E tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Sần Chê S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Sần Chê S và anh Phu Thó E.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Phu Trung H, sinh ngày 24/08/2018 cho anh Phu Thó E trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Phu Trung H đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Sần Chê S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chị Sần Chê S được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Sần Chê S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002366 ngày 09 tháng 03 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận chị Sần Chê S đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Chị Sần Chê S, anh Phu Thó E được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh; - VKS huyện BX - THADS; - UBND xã Y, - Các đương sự - Lưu hs, tập QĐ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Hương |