vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn P đối với chị Lưu Thị Mỹ N về việc “Xin ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N được ly hôn. Về con chung: Giao 01 con chung là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014 cho anh Lê Văn P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Lưu Thị Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn P đối với chị Lưu Thị Mỹ N về việc “Xin ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ- ST
Ngày : 27- 3- 2023
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Thương Huyền

2. Bà Phan Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 09/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn P, sinh năm 1989 NKTT: Đội 18, xã Xuân Hoà, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Chỗ ở hiện nay: Số 156, đường Đoàn Kết, tổ 03, phường Bình M, thành phố Lào C, tỉnh Lào C.

- Bị đơn: Chị Lưu Thị Mỹ N, sinh năm 1994 Địa chỉ: Thôn 08, xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

(Anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Lê Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có quen biết tìm hiểu yêu đương nhau được 01 năm thì quyết định sống chung và đăng ký kết hôn UBND xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/9/2014. Hôn nhân là tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý và có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống không hạnh P, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cãi vả, vợ chồng hiện nay đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm ai, anh Lê Văn P không còn yêu thương chị Lưu Thị Mỹ N. Do vậy anh Lê Văn P xin được ly hôn với chị Lưu Thị Mỹ N.

Về con chung: Quá trình chung sống anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có 01 người con chung tên là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014. Hiện nay cháu Lê Thị N P do anh Lê Văn P trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn anh Lê Văn P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Lê Văn P không yêu cầu chị Lưu Thị Mỹ N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Quá trình chung sống anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Lưu Thị Mỹ N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mỹ N và anh Lê Văn P quen biết tìm hiểu yêu nhau được 01 năm thì quyết định sống chung và đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/9/2014. Hôn nhân là tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý và có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống không hạnh P, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, cãi vã, anh Lê Văn P không quan tâm chị và con, sau khi cãi nhau anh Lê Văn P ôm con bỏ về quê sinh sống, tôi nhiều lần thăm gặp và gọi điện cho con nhưng anh Lê Văn P cấm cản, từ đó vợ chồng đường ai nấy sống, tôi về nhà bố mẹ sinh sống tại thôn 08, xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng còn anh Lê Văn P thì sinh sống ở tỉnh Nam Định. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân năm 2016 cho đến nay. Nay anh anh Lê Văn P yêu cầu giải quyết ly hôn chị Lưu Thị Mỹ N đồng ý được ly hôn với anh anh Lê Văn P.

Về con chung: Chị Lưu Thị Mỹ N đồng ý giao 01 người con chung là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014 cho anh Lê Văn P chăm sóc và nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Lưu Thị Mỹ N trình bày chị và anh Lê Văn P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Lưu Thị Mỹ N trình bày chị và anh Lê Văn P không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 01/3/2023 nhưng không được do anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có đơn đề nghị vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, đồng thời chị Lưu Thị Mỹ N có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nữa mà giải quyết vụ án theo pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N được ly hôn. Về con chung cần giao 01 con chung là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014 cho anh Lê Văn P tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chị Lưu Thị Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn anh Lê Văn P và bị đơn chị Lưu Thị Mỹ N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

II. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Anh Lê Văn P yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với chị Lưu Thị Mỹ N, có địa chỉ tại Thôn 08, xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo L.

III. Về nội dung vụ án:

{1} Về quan hệ hôn nhân: Cả anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N đều trình bày hai người chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/9/2014. Việc chung sống là tự nguyện có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cãi vả, vợ chồng hiện nay đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Quá trình sống ly thân hai người phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau, không liên lạc. Nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy anh Lê Văn P xin được ly hôn với chị Lưu Thị Mỹ N và chị Lưu Thị Mỹ N cũng đồng ý được ly hôn với anh Lê Văn P.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Lưu Thị Mỹ N có đơn xin vắng mặt nên hòa giải không thành. Tại phiên tòa anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hai người đã không liên lạc với nhau, không hàn gắn tình cảm được nên cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N được ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.

{2} Về con chung: Xét lời khai của anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N, căn cứ vào giấy khai sinh anh Lê Văn P nộp cho Tòa án thì quá trình chung sống anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N có 01 người con chung tên là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014. Quá trình hai vợ chồng sống ly thân anh Lê Văn P là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thị N P. Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng con chung thì cháu Lê Thị N P phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần, bên cạnh đó Lê Thị N P còn có đơn nguyện vọng được ở với bố, anh Lê Văn P có việc làm, có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con và giao con của anh Lê Văn P là có cơ sở và đúng pháp luật, vì vậy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục giao con chung là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014 cho anh Lê Văn P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Anh Lê Văn P không yêu cầu chị Lưu Thị Mỹ N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

{3} Về tài sản chung: Anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N trình bày quá trình chung sống hai người không có tài sản chung và không có yêu cầu giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{4} Về nợ chung: Anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N trình bày quá trình chung sống hai người không có nợ chung nên không có yêu cầu gì do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{5} Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc anh Lê Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 235, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn P đối với chị Lưu Thị Mỹ N về việc “Xin ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn P và chị Lưu Thị Mỹ N được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là Lê Thị N P, sinh ngày 05/3/2014 cho anh Lê Văn P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Lưu Thị Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

3. Về án phí: Buộc anh Lê Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Lê Văn P đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0012641 ngày 17/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử P thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ