- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tằng Đình T - Phùn Đình H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tằng Đình T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15/3/2023 "V/v tranh chấp xác định con cho cha" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang và bà Đinh Thanh Hoàn
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023. Tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2022/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Tằng Đình T, sinh năm: 1982; nơi thường trú: thôn L, xã B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: anh Phùn Đình H, sinh năm: 1989; nơi thường trú: thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Phùn Thị T, sinh năm: 1988; nơi thường trú: thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2022 và bản tự khai ngày 31/12/2022 nguyên đơn anh Tằng Đình T trình bày: anh có quan hệ tình cảm với chị Phùn Thị T trong thời gian chị T và anh Phùn Đình H đang là vợ chồng hợp pháp, nhưng đã sống ly thân với nhau. Khoảng tháng 11/2021 anh được biết chị T và anh H đã làm thủ tục giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố M. Đến ngày 03/8/2022 chị T sinh con và đặt tên là Phùn Thiên P. Nghi ngờ con chị T sinh ra là con của anh nên đã đưa cháu P đi giám định ADN, tại phiếu kết quả phân tích ADN của Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền ngày 06/10/2022 đã xác định anh là cha đẻ của cháu P. Tuy nhiên do cháu P được sinh ra trong thời gian 300 ngày sau khi chị T và anh H ly hôn nên giấy khai sinh số: 38 ngày 30/11/2022 vẫn xác định anh Phùn Đình H là cha của cháu Phùn Thiên P. Vì vậy, anh làm đơn này đề nghị Tòa án căn cứ vào kết luận giám định ADN của Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền xác định cháu Phùn Thiên P là con của anh.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phùn Đình H trình bày: anh và chị Phùn Thị T là vợ chồng hợp pháp, do mâu thuẫn vợ chồng nên đã sống ly thân từ đầu năm 2021, đến ngày 12/11/2021 anh H và chị T đã giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái. Ngày 03/8/2022, chị T sinh con đặt tên là Phùn Thiên P, do con sinh ra trong thời gian 300 ngày sau khi ly hôn nên giấy khai sinh vẫn thể hiện anh H là cha của cháu P, anh khẳng định không phải là cha của cháu P. Do vậy, anh T đã giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống với cháu P, anh đề nghị Tòa án căn cứ kết quả giám định ADN giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phùn Thị T trình bày: chị Phùn Thị T có quan hệ tình cảm với anh Tằng Đình T trong thời kỳ chị và anh H có hôn nhân hợp pháp nhưng sống ly thân nhau. Đến ngày 03/8/2022 chị sinh con, do con được sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ ngày ly hôn với anh H (ngày 12/11/2021) nên khi đăng ký khai sinh cho con thì anh H vẫn là người cha trên giấy tờ của cháu P. Nay chị nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh T về việc xác định con cho cha để đảm bảo quyền lợi sau này của con chị.
Quá trình giải quyết vụ án anh T đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: căn cước công dân (03 bản sao); phiếu kết quả phân tích ADN (01 bản gốc); giấy khai sinh (01 bản sao); quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án (01 bản sao); xác nhận thông tin về cư trú (01 bản chính); sổ hộ khẩu (02 bản sao).
Chứng cứ do Tòa án thu thập là: công văn số 07 ngày 03/02/2023 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền kèm theo hồ sơ xét nghiệm kết quả phân tích ADN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng qui định của pháp luật;
+ Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 89, 91, 102 Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Phùn Thiên P, sinh ngày 03/8/2022 là con đẻ của anh Tằng Đình T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về xác định quan hệ tranh chấp: yêu cầu xác định con cho cha của anh Tằng Đình T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn có nơi thường trú tại thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
Xác định tư cách tham gia tố tụng: nguyên đơn là anh Tằng Đình T, bị đơn là anh Phùn Đình H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phùn Thị T theo khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải: đây là vụ án có quan hệ tranh chấp phát sinh từ sự vi phạm nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Hôn nhân và gia đình nên không được hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 206 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt biết theo quy định.
Về việc triệu tập tham gia phiên tòa: Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đối với các đương sự, những người tham gia tố tụng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử và thủ tục trình tự xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện xác định con cho cha của anh Tằng Đình T
Xét ý kiến của chị Phùn Thị T, anh Phùn Đình H và anh Tằng Đình T đều thống nhất cháu Phùn Thiên P do chị T sinh là con đẻ của anh T. Tại phiếu kết quả phân tích giám định ADN số: KQ 2205659 ngày 06/10/2022 của Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận anh Tằng Đình T, sinh ngày 01/01/1982, số CCCD: xxxxxxxxxxxx và cháu Phùn Thiên P, có quan hệ huyết thống cha - con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, xác định cháu Phùn Thiên P là con đẻ của anh Tằng Đình T.
Về chi phí giám định: anh Tằng Đình T tự thực hiện việc giám định ADN và tự chịu toàn bộ chi phí giám định nên không đề cập.
Về án phí: anh Tằng Đình T tự nguyện nộp án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận để anh Tằng Đình T nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 206; khoản 1 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 2; khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 89; Điều 91; khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tằng Đình T.
- Xác định cháu Phùn Thiên P, sinh ngày 03/8/2022 (đăng khai sinh số: 38 ngày 30/11/2022 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) là con đẻ của anh Tằng Đình T, sinh ngày 01/01/1982, số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: thôn L, xã B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí: Anh Tằng Đình T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007694 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, anh Tằng Đình T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Móng Cái; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã Hải Sơn, TP. Mong Cái; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |