vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xác nhận cha cho con của chị Trần Minh A đối với anh Nguyễn Đại L Xác nhận các cháu: Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai) và Kết luận giám định ADN số: HT72.23/PY-XNSH ngày 28/02/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 3 năm 2023
“V/v: Tranh chấp xác nhận cha cho con””

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Trung Hiếu

2. Bà Vũ Phương Liên

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Thùy - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 433/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp xác nhận cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Minh A, Sinh năm 2000; ĐKHKTT: 44 H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đại L, Sinh năm 1997; ĐKHKTT: xóm 1 X, X, N; Hiện ở tại: 1001A H, phường C, quận H, thành phố H. (Có mặt)

- Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Đăng T, Sinh năm 1998; ĐKHKT: 96 tổ 4 H, phường H, quận H, thành phố H. (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nguyên đơn - chị Trần Minh A trình bày:

Chị và anh Đỗ Đăng T kết hôn nhưng đã ly thân từ năm 2019, tuy nhiên đến tháng 4/2022 anh chị mới hoàn tất thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 25/2022/QĐCNTTLH ngày 28/4/2022. Trong quá trình sống ly thân với anh T, chị quen biết với anh Nguyễn Đại L và mang thai, sau khi ly hôn với anh T thì chị sinh con vào ngày 23/8/2022, dự định đặt tên con là Nguyễn Trần Bảo K. (Giấy chứng sinh số 1267 quyền số: MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai).

Chị đã đề nghị Tòa án tiến hành việc trưng cầu giám định ADN giữa anh Nguyễn Đại L và cháu Nguyễn Trần Bảo K. Kết quả giám định của Viện Pháp Y Quân Đội đã kết luận anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K.

Nay để hoàn tất thủ tục làm giấy khai sinh cho cháu, chị đề nghị Tòa án xác nhận anh Nguyễn Đại L là bố đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Sau khi sinh cháu K, ngày 28/9/2022 chị và anh Nguyễn Đại L đã tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay, cả 2 anh chị cùng chăm sóc con chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/01/2023 và lời trình bày tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Đại L trình bày:

Anh đã biết về việc chị Trần Minh A có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án xác định cha cho con, anh nhất trí việc Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền, anh cũng không có yêu cầu phản tố gì và nhất trí với việc Tòa án trưng cầu giám định để xác định ADN của anh và cháu Nguyễn Trần Bảo K theo yêu cầu của chị Trần Minh A. Anh L đề nghị Toà án xác định cháu Nguyễn Trần Bảo K là con đẻ của anh theo quy định pháp luật. Hiện anh và chị Minh A đã kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cùng nhau chăm sóc cháu Nguyễn Trần Bảo K nên việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 26/12/2022, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Đăng T trình bày:

Anh và chị Trần Minh A kết hôn từ năm 2019, tuy nhiên ngay sau khi kết hôn một thời gian thì giữa anh và chị Minh A đã phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ cuối năm 2019. Đến tháng 3/2022 anh và chị Minh A nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm và ngày 28/4/2022, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã ban hành Quyết định số 25, công nhận anh và chị Minh A thuận tình ly hôn, anh chị không có con chung và tài sản chung. Thời gian gần đây anh mới được chị Minh A thông báo cho biết chị đã sinh con, cần làm thủ tục xác nhận cha cho con. Anh T có ý kiến : từ cuối năm 2019 tuy chưa ly hôn nhưng anh và chị Minh A đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không có tình cảm qua lại. Tuy chị Minh A có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh nhưng anh hoàn toàn không biết vì khi đó anh chị đã sống ly thân từ lâu. Anh khẳng định cháu bé mà chị Minh A đang có yêu cầu làm xác nhận cha cho con không phải là con đẻ của anh. Việc chị Minh A có yêu cầu xác nhận anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu bé, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh Đỗ Đăng T có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa.

Tại Kết luận giám định ADN số: HT72.23/PY-XNSH ngày 28/02/2023 của Viện Pháp y Quân đội - Cục Quân y đã kết luận:

Mẫu số 1 (Mẫu niêm mạc miệng của anh Nguyễn Đại L), sinh ngày 01/12/1997; CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 18/12/2021; HKTT: xóm 1 X, X, N; Hiện ở tại 1001A H, phường C, quận H, thành phố H; Ký hiệu: HT72.23_1) và Mẫu số 2 (Mẫu niêm mạc miệng của cháu Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai; Ký hiệu: HT72.23_2) có quan hệ huyết thống Cha - Con trên các locus gen đã phân tích.

Kết luận: anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K.

Tại phiên tòa: + nguyên đơn - chị Minh A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án xác định anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Đại L.

+ bị đơn - anh Nguyễn Đại L nhất trí với phần trình bày của chị Minh A và cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Minh A, đề nghị Tòa án xác định anh là bố đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Thực hiện đúng các thủ tục tố tụng; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm, về điều khiển phiên toà; Đối với các đương sự đã thực hiện đúng các quy định, các quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xác nhận cháu Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 là con đẻ của anh Nguyễn Đại L; Việc cấp dưỡng nuôi con cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết;

Đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Minh A đăng ký hộ khẩu thưởng trú tại 44 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội có đơn khởi kiện yêu cầu xác nhận cha cho con với bị đơn anh Nguyễn Đại L có nơi cư trú tại: 1001A H, phường C, quận H, thành phố H. Bị đơn anh Nguyễn Đại L cũng nhất trí việc Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền. Do đó căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

- Về trình tự tố tụng: Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Đăng T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy, nội dung Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 25/2022/QĐCNTTLH ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Minh A và anh Đỗ Đăng T thuận tình ly hôn

- Về con chung: xác nhận anh chị chưa có con chung.

Căn cứ lời khai của các đương sự và tài liệu chứng cứ do đương sự giao nộp có cơ sở xác định: Trong thời gian chị Trần Minh A và anh Đỗ Đăng T sống ly thân với nhau, chị Trần Minh A có quan hệ tình cảm và có thai với anh Nguyễn Đại L. Đến ngày 22/8/2022 chị Minh A sinh cháu Nguyễn Trần Bảo K (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai). Tại Kết luận giám định ADN số: HT72.23/PY-XNSH ngày 28/02/2023 của Viện Pháp y Quân đội đã kết luận: “anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K”.

Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Đăng T cũng xác nhận: Do vợ chồng mâu thuẫn nên anh và chị Trần Minh A đã ly thân với nhau từ năm 2019, không ai quan tâm tới ai. Đến 28/4/2022, anh chị làm thủ tục thuận tình ly hôn tại Tòa án. Sau khi ly hôn chị Minh A sinh cháu Nguyễn Trần Bảo K. Anh khẳng định cháu Nguyễn Trần Bảo K không phải là con ruột của anh. Anh không có bất cứ trách nhiệm gì đối với cháu theo quy định của pháp luật. Theo kết luận giám định ADN của Viện pháp y Quân Đội cháu Nguyễn Trần Bảo K là con của anh Nguyễn Đại L và chị Trần Minh A. Anh T cũng đề nghị Tòa án xác định cháu Nguyễn Trần Bảo K là con của anh Nguyễn Đại L theo quy định của pháp luật.

Như vậy, có căn cứ xác định anh Nguyễn Đại L là cha đẻ của cháu Nguyễn Trần Bảo K. Căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện về việc xác định cha cho con của nguyên đơn chị Trần Minh A được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại Tòa án, Anh Nguyễn Đại L và chị Trần Minh A cùng thống nhất trình bày anh chị đã kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2022 ngày 28/9/2022 của UBND phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Hiện tại anh chị vẫn cùng nhau chăm sóc cháu Nguyễn Trần Bảo K nên về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Đại L và chị Trần Minh A có quyền, nghĩa vụ tiến hành đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai) tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Trần Minh A và anh Nguyễn Đại L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

- Điều 88, 89, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xác nhận cha cho con của chị Trần Minh A đối với anh Nguyễn Đại L

2. Xác nhận các cháu: Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai) và Kết luận giám định ADN số: HT72.23/PY-XNSH ngày 28/02/2023 của Viện Pháp y Quân đội

Là con đẻ của anh Nguyễn Đại L, sinh năm 1997; ĐKHKTT: xóm 1 X, X, N

3. Chị Trần Minh A và anh Nguyễn Đại L có quyền, nghĩa vụ tiến hành đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Trần Bảo K, sinh ngày 22/8/2022 (Theo Giấy chứng sinh số 1267, quyển số MĐ 2022 ngày 23/8/2022 của Bệnh viện Bạch Mai) tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Chị Trần Minh A và anh Nguyễn Đại L đã kết hôn hợp pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: chị Trần Minh A và anh Nguyễn Đại L được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ