vanban.org

Bản án 13/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc A đối với bà Nguyễn Thị C về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền nợ hụi 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc A đối với bà Nguyễn Thị C về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/DS-ST
Ngày 09-3-2023
V/v tranh chấp hợp đồng góp
hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Mỹ Hòa.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Hoa Thiên Lý;

2. Ông Trần Văn Thạch.

- Thư ký phiên tòa: bà Trương Thị Thảo Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 04/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Võ Thị Ngọc A, sinh năm 1983; địa chỉ: số nhà 04, hẻm số 47A, đường A1, tổ A2, ấp A3, xã A4, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bà A: ông Phan Văn B, sinh năm 1957; địa chỉ: D40/3 khu phố B1, phường B2, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh là người đại diện ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 27/02/2023; có mặt.

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969; địa chỉ: số nhà 140/15B, hẻm 28, đường C1, ấp C2, xã C3, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Võ Thị Ngọc A và người đại diện hợp pháp trình bày:

Bà A có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị C làm chủ hụi gồm 03 phần hụi của dây hụi 1.000.000 đồng khui ngày 29/10/2020 (âm lịch) tương ứng ngày 13/12/2020 (dương lịch), hụi khui mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 và ngày 30 (âm lịch) hàng tháng, hụi gồm 60 phần. Nhưng do dịch covid nên đến ngày 29/6/2021 (âm lịch) thì ngưng không đóng hụi, đến ngày 29/8/2021 (âm lịch) thì tiếp tục khui hụi.

Trong 3 phần hụi, bà A đã hốt một phần hụi vào ngày 15/02/2022 (âm lịch), hụi kêu 500.000 đồng, tiền hốt được 42.000.000 đồng, trừ tiền cò 1.200.000 đồng, bà nhận số tiền 40.800.000 đồng, trừ tiền hụi phải đóng của 02 phần hụi còn sống là 1.000.000 đồng, nhận thực tế số tiền 39.800.000 đồng, việc này bà C có viết giấy tay xác nhận giao cho bà A giữ.

Sau khi hốt hụi bà A đóng hụi đầy đủ cho bà C đến ngày 15/7/2022 (âm lịch) tương ứng ngày 12/8/2022 (dương lịch) thì ngưng không đóng nữa, lý do bà C thông báo ngưng không gom hụi nữa.

Tại đơn khởi kiện bà A yêu cầu bà C trả số tiền 57.000.000 đồng nhưng nay bà A xác định lại yêu cầu bà C trả số tiền 51.000.000 đồng (gồm 02 phần hụi sống đóng được 37 kỳ là 74.000.000 đồng trừ 23.000.000 đồng tiền hụi chết).

Bị đơn – bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà thừa nhận bà A có tham gia chơi hụi do bà làm chủ hụi các dây hụi như bà A trình bày, đến ngày 15/7/2022 (âm lịch) bà tuyên bố bể hụi nên không tổ chức đăng hụi nữa, nhưng hụi chết thì vẫn gom, bà có thông báo cho các hụi viên ai có phần hụi còn sống thì bà xin trả lại tiền gốc đã đóng, theo hình thức bóc thăm hàng tháng hụi viên nào bóc thăm trúng thì tháng đó bà trả tiền cho người đó. Đa số các hụi viên đều đồng ý, riêng có bà A là không đồng ý và khởi kiện. Bà xác định giấy viết tay có nội dung chữ màu xanh có dòng chữ đầu tiên “hụi 1 triệu khui 30-10-2020…” bà A cung cấp cho Tòa án là do bà viết khi đăng hụi cho bà A. Bà xác định 02 phần hụi sống, bà A đã đóng được 37 kỳ hụi sống, số tiền hụi sống bà A đã đóng là 22.940.000 đồng/phần, riêng hụi chết bà A còn nợ lại 23 kỳ là 23.000.000 đồng.

Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A, chỉ đồng ý trả lại cho bà A số tiền của 02 phần hụi sống (theo mức hụi đã đóng) làm tròn 23.000.000 đồng x 02 phần là 46.000.000 đồng, trừ tiền hụi chết 01 phần hụi mà bà A còn nợ 23.000.000 đồng là 23.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện hợp pháp của bà A trình bày: không biết lý do vì sao bà C tuyên bố bể hụi vì không có hụi viên nào giật hụi của bà C và bà C cũng không khởi kiện hụi viên nào, nay nhận thấy bà C cũng khó khăn nên bà A chỉ yêu cầu bà C trả số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc A đối với bà Nguyễn Thị C, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bà A chỉ yêu cầu bà C trả số tiền hụi 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi nên cần ghi nhận. Về án phí tính theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

. Về Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: nguyên đơn – bà Võ Thị Ngọc A khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn – bà Nguyễn Thị C trả số tiền nợ hụi, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật Dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng: bị đơn – bà Nguyễn Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà C vắng mặt không lý do do đó căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C là đúng theo quy định pháp luật. Ông Phạm Văn D là chồng của bà Võ Thị Ngọc A từ chối tham gia tố tụng trong vụ án vì ông D cho rằng số tiền hụi bà A khởi kiện là tiền riêng của bà A không liên quan đến ông do đó Tòa án không tiến hành triệu tập cũng như không đưa ông Phạm Văn D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

. Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án, bà A và bà C đều thống nhất bà A có tham gia góp 03 phần hụi do bà C làm chủ hụi của dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày khui ngày 29/10/2020 (âm lịch), hụi khui mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 và ngày 30 (âm lịch) hàng tháng, gồm 60 phần, bà A đã hốt một phần hụi vào ngày 15/02/2022 (âm lịch), đến ngày 15/7/2022 (âm lịch) tương ứng ngày 12/8/2022 (dương lịch) bà C thông báo bể hụi nên bà A ngưng không góp hụi nữa, hai bên cũng thừa nhận số tiền hụi chết bà A còn nợ 23.000.000 đồng, 02 phần hụi còn sống bà A đã góp được 37 kỳ/phần hụi. Do đó đây là giao dịch dân sự có thật, được các bên đương sự thừa nhận nên đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định khoản 2, 3 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà A thấy rằng: vào ngày 12/8/2022, bà C là chủ hụi thông báo bể hụi, lý do bể hụi theo bà C trình bày do bà C gặp khó khăn nên không tổ chức khui hụi nữa, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng trình bày không biết lý do vì sao bà C tuyên bố bể hụi vì không có hụi viên nào giật hụi của bà C, từ đó đến nay bà C cũng không khởi kiện hụi viên nào, do đó đây là trường hợp bà C tự ý chấm dứt dây hụi nên bà C phải có trách nhiệm thanh toán lại số tiền hụi cho hụi viên. Đồng thời, từ ngày 12/8/2022 bà C không tổ chức khui hụi nữa, tuy nhiên đối với các hụi viên đã đăng hụi (phần hụi chết) thì hàng tháng bà vẫn gom theo mức hụi chết 1.000.000 đồng/phần do đó bà A khởi kiện yêu cầu bà C trả lại số tiền hụi chênh lệch sau khi đã khấu trừ 02 phần hụi sống đã đóng 37 kỳ/phần tương ứng 02 phần hụi là 74.000.000 đồng – 23.000.000 đồng hụi chết = 51.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 351 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn trình bày chỉ yêu cầu bà C trả số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc A đối với bà Nguyễn Thị C, buộc bà C có nghĩa vụ trả cho bà A số tiền hụi còn nợ là 40.000.000 đồng.

. Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí trên số tiền phải trả theo quy định khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 351, 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc A đối với bà Nguyễn Thị C về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền nợ hụi 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Hoàn trả lại cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.425.000 đồng (một triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0021158 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ